Friday, March 16, 2012

“Ơn Tái Tạo Của Hồ Chủ Tịch”

          Trên đây là lời của luật gia Vũ Đình Hòe, Bộ Trưởng Tư Pháp của chính phủ Lâm Thời Hồ Chí Minh. Ông viết câu tán tụng đó khi “Bộc Bạch Đôi Lời” mở đầu quyển: Pháp Quyền Nhân Nghĩa Hồ Chí Minh”, do Nhà Bản Văn Hóa Thông Tin, Trung Tâm Văn Hóa Ngôn Ngử Đông Tây tại Hà Nội Xuất bản, có ký tên Vũ Đình Hòe và ngày là 20-10-1999. Tác giả ca tụng Hồ Chí Minh nhiều thứ, xin trích đọan đầu và đọan cuối như sau: Tôi—một “trí thức cũ”, xuất phẩm từ lò Đại học Luật của Pháp—có diễm phúc được sống và làm việc bên cạnh Hồ chủ tịch từ 1945 đến 1960, suốt thời gian Cách Mạng Tháng Tám và chế độ nhà nước Dân chủ Cộng Hòa Việt Nam (....) Bác Hồ đã cải hóa bọn chúng tôi thành những cán bộ pháp lý khả thủ, dần dần biết suy nghĩ và hành động đúng đắn. Công ơn tái tạo của người đối với chúng tôi sâu rộng biết bao!”

Chúng tôi đã phân tích về thủ tục tổ chức tổng tuyển cử Quốc Hội I ngày 6 tháng 1 năm 1946 để kết luận đó là cuộc bầu cử Quốc Hội kiểu “Đảng Cử Dân Bị đi Bầu” kéo dài tới Quốc Hội thứ XIII ngày 22 tháng 5 năm 2011 chứ không có gì thay đổi.
Nhưng Đảng và nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa quả thật quá sức bận rộn trong tháng Năm từ lo kỷ niệm ngày sinh 19 tháng 5 của Bác, rồi lo bầu cử Quốc Hội bù nhìn tỉ số đắc cử cao như Bác,  kế tiếp là rầm rộ Việt Nam còn có những cuộc hội thảo kỷ niệm 100 năm ngày Nguyễn Ái Quốc tìm đường cứu nước (5-6-19115--6-2011).
Còn khi Hồ Chí Minh Về Nước?
Báo Nhân Dân điện tử loan tin rằng tại TP Hồ Chí Minh, có tổ chức Hội thảo khoa học "Chủ tịch Hồ Chí Minh - Hành trình tìm đường cứu nước" do sự phối hợp Đảng ủu thành phố (tức Sàigòn cũ), ủy Ban Tuyên giáo T.Ư, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia HCM, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Chính ngành Du lịch của nhà nước cho tài liệu về dân số và những thắng cảnh của Việt Nam cho tổ chức du lịch thế giới hầu câu khách tới tiêu tiền nuôi sống chế độ nên khi lên mạng, vào Google, tìm tài liệu của tổ chức du lịch thế giới, giới thiệu tổng số nam phụ lão ấu của Hà Nội năm 1946 chỉ có nhiều nhất là từ 120 ngàn dân: http://www.galenfrysinger.com/hanoi_viet_nam.htm mà Bộ Trưởng Tư Pháp Vũ Đình Hòe ghi trong sách là toàn thủ đô Hà Nội có 187.000 cử tri thì 172.765 cử tri đi bầu. Mà có tới 169.222  cử tri đã bỏ phiếu cho công dân Hồ Chí Minh tức 97%.
Nhưng Tổng Thống Richard Nixon viết trong quyển “No more Vietnams”, page 42) rằng nếu mọi người bất kể tuổi tác đều bỏ phiếu vào “lọ phiếu” bầu Quốc Hội Cộng Sản khóa I đó lúc ấy thật sự chỉ có 119 ngàn người, thì tỉ số 169.222/119,000 người, tức phải là 140% mới đúng: “Ho received 169.222 votes in Hanoi, a city with a population of only 119,000. That amounted to 140 percent of vote, if every person regardless of age cast a ballot. Nixon viết sách nầy năm 1985, Đại tướng Võ Nguyên Giáp có đọc, dùng nó để bình luận nhiều vấn đề,  nhưng tuyệt nhiên không dám hó hé tới chuyện hệ trọng nầy!
 Có lẽ vì mạng lưới Google giúp truy cập được nhiều tin tức quan trọng từ quá khứ vị lai như vậy nên từ năm 2010 cái xứ sở “Bác Hồ ta đó chính là bác Mao” đã trì hoãn cấp giấy phép hoạt động mới cho Google ở Trung Cộng. Rồi mới mấy ngày nay có tin xứ bác Mao đã cho tin tặc vào phá phách Google trong máy của các chính khách Mỹ đến đổi giới chức Mỹ lên tiếng sẽ truy tìm việc nầy, nếu có tội có thể đưa đến hình phạt quân sự?
Ngày 2 tháng 6 năm 2011, Bà Ngọai Trưởng Hillary Clinton trong cuộc họp báo tại Washington tuyên bố là FBI đang làm việc với Google để điều tra những cáo buộc của Google là các tin tặc Trung Cộng xâm nhập vào tài khoản e-mail của hàng trăm người trong đó có các giới chức cao cấp Mỹ, các nhà hoạt động chính trị Trung Cộng và các nhà báo. Trước đó Công ty này không nói rõ những giới chức nào của Mỹ bị ảnh hưởng hay tài khoản của người sử dụng bị bao lâu. Google nói nỗ lực đánh cắp mật mã từ những tài khoản e-mail của khách hàng của Google phát xuất từ Tế Nam miền đông Trung Cộng mà Google không cho biết chi tiết e-mail của những người nào bị xâm phạm.  Bà cho biết nhân viên của FBI đang điều tra xem tài khoản e-mail nào của chính phủ Mỹ bị tấn công.
Và đương nhiên, cũng như Trung Cộng từng phủ nhận việc các “tàu lạ” tấn công ngư dân Việt Nam, con cháu Mao Trạch Đông cũng phủ nhận việc nầy: tại một buổi họp báo của Bộ Ngoại giao Trung cộng, phát ngôn viên Hồng Lỗi của Bắc Kinh nói quy trách Trung Cộng thực hiện vụ tấn công tin tặc là điều không thể chấp nhận!
Còn một điểm hệ trọng cũng do Bộ Trưởng Tư Pháp Vũ Đình Hòe nêu ra là khi về nước, mở Quốc Hội I mà Võ Đình Hòe hân hạnh tham dự sọan thảo các Sắc Lệnh về Tổng Tuyển Cử, ông viết rằng khi ứng cử ở Hà Nội, Hồ  Chí Minh tự khai thuộc đảng Quốc Gia  (Pháp Quyền Nhân Nghĩa Hồ Chí Minh,  tr.77, 80).
Hẳn đó là một trong những “công ơn” mà Luật gia Vũ Đình Hòe tri ân: Công ơn tái tạo của người đối với chúng tôi”. Chữ “người” ông không viết chữ hoa, nhưng nhờ ông viết như vậy năm 1999, tức 30 năm ngày bác Hồ tử, chứ lúc bác mà còn sống thì ông Đình Hòe sẽ bị cứa cổ dù được bác tin tưởng. Bằng chứng là Trần Dần, dù đã hi sinh ra trận Điện Biên Phủ khi viết: “Xưa nay người chẳng tin người” trong bài “Ta Nhất Định Thắng” thì thi sĩ Trần Dần cũng bị Đảng đưa nhiều lý lẽ để trù dập, tức quá phải cứa cổ tự tử, may mà không chết.
 Bây giờ xin trở lại báo Nhân Dân điện tử loan tin về tổ chức Hội thảo khoa học "Chủ tịch Hồ Chí Minh - Hành trình tìm đường cứu nước". Rằng ngày 28, 29, 31 tháng 5,  Hội thảo đã được nghe các tham luận quan trọng của các nhân vật nổi tiếng như cựu Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu với chủ đề về "Hồ Chí Minh với giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân". Ấy vậy mà khi về nước, xứ CHXHCN của Hồ Chí Minh đã tạo môi trường bằng thứ “luật pháp nhân nghĩa” đến độ chính cựu Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu tố cáo những nhân vật Trung Ương Đảng hối lộ hàng chục, trăm triệu Đô la Mỹ, trong đó có Tổng Bí Thư Đỗ Mười nữa; hèn nào kỳ nầy không nghe nói Đỗ Mười lên diễn đàn. Hay là ông đang lên cơn lọan tâm thần như Bùi Tín tả, là ông hay trèo lên ngọn cây mà ca hát hay làm gì đó không ai biết?
Thế vào, là có bài của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng với chủ đề "Vững bước trên con đường Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn, tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. À thành tích “công nghiệp hóa” của Nguyễn Tấn Dũng là cho công nhân Tàu vào khai thác quặng Bauxít Tây Nguyên, “cho mướn” rừng, “cắt” biển của đất nước dài hạn và nổi cộm là “công nghiệp thiếu nợ” tàu thủy Vinashin v.v. để “hiện đại hóa đất nước”? 
Chưa hết, ngày 2 tháng 6 năm 2011, báo Nhân Dân điện tử còn tiếp tục với đầy đủ những hình ảnh và lời phát biểu của những nhân vật quan trọng khác trong “Hội thảo khoa học: Chủ tịch Hồ Chí Minh - Hành trình tìm đường cứu nước" mà chúng ta có những nhân chứng trả lời câu hỏi “Còn khi về nước” Hồ Chí Minh đã làm gì?
Nay dù bác chết, nhưng “Tư tưởng Hồ Chí Minh” vẫn còn tạo ra “Nghị quyết 36” đưa biết bao người mang danh nghĩa Quốc Gia để hại người Quốc Gia chân chính y như Hồ Chí Minh ứng cử Quốc Hội năm 1946 vậy. Nhắc lại như vậy để mọi người lượng sức mà nhắc nhở bà  Ngọai Tưởng Clinton xem 15 năm nay chồng bà Bill Clinton mở cửa bang giao với Việt Cộng đã tốn bao nhiêu tiền thuế má của dân Mỹ và rước bao nhiêu kẻ đội lốt Quốc Gia thân Mỹ vào Hoa Kỳ để tiếp tay Trung Cộng mà phá nước Mỹ??
Bây giờ xin trở lại báo Nhân Dân điện tử loan tin về tổ chức Hội thảo khoa học "Chủ tịch Hồ Chí Minh - Hành trình tìm đường cứu nước". Rằng ngày 28, 29, 31 tháng 5,  Hội thảo đã được nghe các tham luận quan trọng của các nhân vật nổi tiếng như cựu Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu với chủ đề về "Hồ Chí Minh với giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân". Ấy vậy mà khi về nước, xứ CHXHCN của Hồ Chí Minh đã tạo môi trường bằng thứ “luật pháp nhân nghĩa” đến độ chính cựu Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu tố cáo những nhân vật Trung Ương Đảng hối lộ hàng chục, trăm triệu Đô la Mỹ, trong đó có Tổng Bí Thư Đỗ Mười nữa; hèn nào kỳ nầy không nghe nói Đỗ Mười lên diễn đàn. Hay là ông đang lên cơn lọan tâm thần như Bùi Tín tả, là ông hay trèo lên ngọn cây mà ca hát hay làm gì đó không ai biết?
Thế vào, là có bài của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng với chủ đề "Vững bước trên con đường Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn, tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. À thành tích “công nghiệp hóa” của Nguyễn Tấn Dũng là cho công nhân Tàu vào khai thác quặng Bauxít Tây Nguyên, “cho mướn” rừng, “cắt” biển của đất nước dài hạn và nổi cộm là “công nghiệp thiếu nợ” tàu thủy Vinashin v.v. để “hiện đại hóa đất nước”?  
Chưa hết, ngày 2 tháng 6 năm 2011, báo Nhân Dân điện tử còn tiếp tục với đầy đủ những hình ảnh và lời phát biểu của những nhân vật quan trọng khác trong “Hội thảo khoa học: Chủ tịch Hồ Chí Minh - Hành trình tìm đường cứu nước" mà chúng ta có những nhân chứng trả lời câu hỏi “Còn khi về nước” Hồ Chí Minh đã làm gì?
Xin chọn một nhân vật thuộc về Thiên Chúa giáo, trước hết.
 Linh mục Nguyễn Công Danh :
Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban Ðoàn kết Công giáo TP Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Ủy ban Ðoàn kết Công giáo Việt Nam, Linh mục Nguyễn Công Danh lên diễn đàn với tham luận nhan đề “100 nă12798.jpgm - Người con ra đi để trở về”.
Báo Nhân Dân viết LM “đã tập trung phân tích, luận giải quá trình hình thành phẩm chất đạo đức, tư tưởng Hồ Chí Minh dưới tác động của các yếu tố giáo dục, truyền thống gia đình, quê hương đất nước và quá trình ra đi tìm đường cứu nước.” Linh mục Nguyễn Công Danh còn nhấn mạnh:
Nếu như tư tưởng yêu nước và đạo đức cách mạng đã tạo động lực cho Người ra đi và trở về, thì vốn kiến thức uyên bác và trên hết là truyền thống hiếu học nổi tiếng của quê hương chính là nền tảng cơ sở cho thành công của Người. Và từ xuất phát điểm rõ ràng đó, cuộc đời của Bác quả thực là tấm gương sinh động mẫu mực về sự học, chí lớn và hoài bão cho chúng ta noi theo.”  v.v.  
LTS -
Trang 474: TOÂN GIAÙO:
Coù anh em hoûi moät ngöôøi coâng giaùo coù theå vaøo Ñaûng Lao ñoäng khoâng? Coù. Ngöôøi toân giaùo naøo vaøo cuõng ñöôïc, mieãn laø trung thaønh, haêng haùi laøm nhieäm vuï, giöõ ñuùng kyû luaät cuûa Ñaûng. Nöôùc ta kinh teá laïc haäu, kyû thuaät keùm, toân giaùo laø duy taâm, coäng saûn laø duy vaät, nhöng trong ñieàu kieän hieän taïi, ngöôøi theo ñaïo vaãn vaøo Ñaûng ñöôïc. Sau moät thôøi gian naøo ñaáy, kinh teá phaùt trieån, chính trò taêng leân thì ñieàu ñoù khoâng ñöôïc. Thí duï nhö ôû Lieân Xoâ, coù töï do tín ngöôõng, coøn toân giaùo, nhöng ñaõ theo toân giaùo thì khoâng ñöôïc vaøo Ñaûng.

Tổ Quốc lâm nguy – Thậm chí nguy !!!

Lệ Cấp báo và giới thiệu của Lm TNLT Nguyễn Văn Lý 30-5-2011 : Gs Vũ Cao Đàm là một người Việt gốc Hán, cụ Tổ là An Nam Đô hộ sứ Vũ Hồn, Nhà Hán cử qua đô hộ Việt Nam từ thế kỷ X. Hiện nay con cháu sinh sống tại Hải Dương, Hải Phòng, Hà Nội… trong đó có Đức Giám mục Giuse Vũ Văn Thiên, Giáo phận Hải Phòng. Tại Hải Dương có đền thờ Vũ Hồn. Gs Đàm nhận Việt Nam là Tổ quốc hàng ngàn năm của mình, ra sức cảnh báo và phản đối âm mưu thôn tính VN của Trung Cộng, bằng nhiều bài viết rất tha thiết như 2 bài : Đòn xâm lược bẩn thỉu của Trung Cộng, Vinashin chỉ là chuyện quá ư nhỏ nhoi… mà chúng tôi đã góp tay phổ biến hồi tháng 10-2010 (lần này chúng tôi xin phổ biến lại).
+ Chiến tranh tâm lý và bạo lực của TC đã bao lần đe dọa làm Bộ Chính Trị ĐCSVN và nhiều Quan chức CSVN -vừa sợ vừa tham lợi- phải nhượng quá nhiều thứ : sự thật, công lý, lịch sử, văn hóa, chủ quyền, đất, biển, đảo, Tây Nguyên, rừng đầu nguồn 16 tỉnh Bắc biên giới, Ải Nam Quan, Chi Lăng, Thác Bản Giốc, Vịnh Bắc Việt, dự án-công trình, nhượng cả việc làm của Dân nghèo, ngày càng tạo cớ thuận lợi cho Tàu đưa dân vào VN ồ ạt, không cần hộ chiếu, ngang nhiên lập thành phố Tàu khắp nơi trên lãnh thổ VN.
Tóm lại là đã nhượng quá nhiều về lãnh thổ-lãnh hải-chính trị-ngoại giao-văn hóa-lịch sử.
Nghiêm trọng nhất là nhượng chủ quyền và quyền Dân tộc tự quyết.
VN còn gì để phải mất tiếp ? Xương máu và mạng sống Dân đen chăng ?
Nay TC đang khiêu khích mạnh hơn. Liệu chuyện gì sắp xảy ra ?
Đồng bào, Thanh niên, Nhân sĩ, Cán bộ, Quân đội, Công an Việt Nam.... không được phép ngủ mê nữa ! Đã đến lúc phải choàng tỉnh dậy, vì quá muộn rồi !!! Chúng ta phải cùng nhau thận trọng cân nhắc phải làm gì để cứu nguy Giang sơn – Tổ quốc – Dân tộc ?
+ Ngày 29-5-2011 Internet phổ biến bài dịch nguyên bản tiếng Trung Quốc trên Điện báo “Trung Quốc Binh Khí Đại Toàn” đăng ngày 9-01-2010 của Gs Vũ Cao Đàm. Vì tính cực kỳ nghiêm trọng, lời lẽ rất khiêu khích đe dọa quá hiếu chiến của bài báo, nên có thể Gs Đàm chưa muốn phổ biến sớm hồi tháng 01-2010, sợ tạo dư luận hoang mang và căm thù có thể chưa quá cận kề (hoặc đã phổ biến mà chúng tôi không biết). Nay đứng trước những động thái cố tình khiêu chiến và xâm lược thực sự của Tàu Cộng, tạo nên tình hình rất nghiêm trọng trong những ngày này quanh quần đảo Trường Sa và vùng biển Phú Yên, Khánh Hòa, Cam Ranh…, nên Gs Đàm - hoặc Bạn nào đó- phải phổ biến ngay bản dịch này. Cùng với hơn 90 triệu con dân Việt đang thấp thỏm lo âu cho Tổ quốc, xin chân thành cảm ơn những ai đã giúp phổ biến bài báo và nhất là tấm lòng liêm chính quyết tâm đứng hẳn về phía Công lý không do dự của Giáo sư Vũ Cao Đàm, trong khi nhiều người tự coi là nòi giống Việt chính gốc vẫn cứ cố tình tiếp tục ngủ mê mà không hề chút bận tâm hổ thẹn!!! Tiêu đề do chính Gs Đàm đặt cho Tổ quốc - Dân tộc Việt Nam, thay cho tiêu đề của nguyên bản không được dịch. Những đoạn gạch dưới và tô đậm là của chúng tôi. Sau đây là nội dung bản dịch :
Quần đảo Nam Sa (Việt Nam gọi là Trường Sa) vốn dĩ là chuỗi ngọc trai lấp lánh của đất mẹ Trung Hoa, nhưng lại bị nhiều kẻ trộm cắp, muốn chiếm đoạt, giành giật, việc này chỉ làm phân tán đi ánh hào quang của chuỗi ngọc trai mà thôi. Trong số các đảo bị các nước chiếm đoạt, bọn Việt Nam kiêu ngạo, vong ơn bội nghĩa đã ráo riết chiếm đóng quần đảo với số lượng nhiều nhất.
Nghĩ lại mà xem, Việt Nam vốn xưa là phiên thuộc của nước ta. Năm 1885, theo Thỏa ước Pháp – Thanh, Việt Nam đã bị nhượng lại cho Pháp, dần trở thành thuộc địa của Pháp. Sau hai cuộc chiến tranh, Trung Quốc đã giúp Việt Nam đánh đuổi thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, hai miền Nam Bắc đã được thống nhất. Nhưng thật không ngờ bọn Việt Nam không những không biết ơn Trung Quốc, mà trái lại đã lấy oán báo ân, tự vỗ ngực xem mình là nước có tiềm lực quân sự lớn thứ ba thế giới, liên tiếp khiêu khích Trung Quốc. Mặc dù qua hai bài học, là cuộc chiến tranh biên giới Trung – Việt và chiến tranh Bãi đá ngầm, nhưng Việt Nam vẫn không nhận ra được bài học, càng ra sức chiếm đoạt nhiều đảo hơn.
Do bọn Việt Nam bắt tay thực hiện khai thác đảo sớm nên điều kiện chiếm cứ thuận lợi hơn, hơn nữa lại có nguồn nước ngọt nên bọn chúng có thể thi công trên đảo, xây dựng sân bay, kiến tạo hạ tầng kỹ thuật thông tin di động, di dân ra đảo, tổ chức du lịch quốc tế, thiết lập phân chia ranh giới khu hành chính cấp huyện hòng vĩnh cửu hóa, thực tế hóa, quốc tế hóa, hợp pháp hóa hành vi bá chiếm. Tiếp đó các nước khác cũng lần lượt theo đuôi Việt Nam, như Philipin, Malaysia, Indonesia, Bruney… xâu xé vùng biển Nam Sa của Trung Quốc, xây dựng căn cứ quân sự hoặc khoan dầu mỏ. Tất cả bọn chúng đều không coi Trung Quốc ra gì.
Các nước xung quanh xâm chiếm quần đảo Nam Sa đúng vào thời kỳ đất nước Trung Quốc chúng ta tiến hành cải cách mở cửa, thực hiện chiến lược đối ngoại hòa bình, tập trung xây dựng kinh tế trong nước, duy trì hòa bình phát triển với bên ngoài. Cùng là những nước đang phát triển đáng ra Việt Nam và các nước lân cận phải có thiện ý giải quyết hài hòa những tranh chấp. Đất nước chúng ta đề xướng ra mục tiêu “gác lại chiến tranh, cùng nhau phát triển”. Tuy nhiên, 30 năm qua, lòng tốt của chúng ta lại không hề được báo đáp, mà trái lại các nước còn không ngừng tăng cường lấn chiếm khu vực biển của nước ta, ngang nhiên chiếm lãnh hải, lãnh thổ nước ta. Không khó khăn lắm, chúng ta cũng có thể nhận ra rằng, lòng tốt của chúng ta không được báo đáp tử tế; danh dự, lãnh thổ và lãnh hải quốc gia nếu chỉ dựa vào giao thiệp hòa bình thì khó mà giữ gìn, bảo vệ được. Ủy ban thềm lục địa của Liên Hiệp Quốc quy định, 12/5/2009 là kỳ hạn cuối cùng cho các quốc gia có liên quan phải hoàn thành việc gửi những bản giải trình các luận cứ khoa học về chủ quyền thềm lục địa và khu kinh tế đặc quyền. Tình hình phát triển còn làm phức tạp hóa vấn đề, sự xoay chuyển của thời gian sẽ làm cho chúng ta càng thêm bất lợi, nếu cứ tiếp tục kéo dài sự khoan dung của chúng ta thì kẻ khác sẽ cho rằng chúng ta đã chấp nhận, bằng lòng với việc đó. Vì thế, biện pháp có hiệu quả là phải dùng lực lượng quân sự chiếm đoạt lại Nam Sa, và phải đưa việc này vào chương trình nghị sự.
Chúng ta phải thấy một thực tế rằng, mức độ xâm phạm của các nước có liên quan đối với lợi ích của nước ta là khác nhau, do điều kiện môi trường và địa vị quốc tế khác nhau nên sẽ có những phản ứng khác nhau đối với hoạt động quân sự của nước ta, vì vậy mà chúng ta cần phải có những cách đối xử khác nhau, giải quyết tốt những mâu thuẫn chủ yếu, thúc đẩy giải quyết những mâu thuẫn thứ yếu. Không còn nghi ngờ gì nữa, mục tiêu tấn công chủ yếu của chúng ta phải là Việt Nam.
Chúng ta có đầy đủ lý do để tấn công Việt Nam, Việt Nam cũng có đầy đủ điều kiện để trở thành vật tế của trận chiến thu hồi Nam Sa :
1. Việt Nam xâm chiếm nhiều đảo nhất, có nguy hại lớn nhất, hơn nữa có thái độ kiêu ngạo nhất, ảnh hưởng xấu nhất. Trước tiên ta thu hồi lại những đảo mà Việt Nam chiếm đóng là có thể thu hồi lại hầu hết các đảo bị chiếm, khống chế được toàn bộ. Lấy gương xua đuổi thành công quân Việt Nam để răn đe các nước khác buộc chúng phải tự mình rút lui.
2. Trước đây, Việt Nam đã nhất nhất thừa nhận Tây Sa và Nam Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Những bài phát biểu của các quan chức, bản đồ quân sự, tài liệu địa lý đều là những bằng chứng xác thực, cho đến sau khi thống nhất đất nước thì Việt Nam có những thái độ bất thường, có yêu cầu về lãnh thổ lãnh hải đối với Tây Sa và Nam Sa. Việt Nam ngấm ngầm thọc lưng Trung Quốc, tiền hậu bất nhất, đã làm mất đi cái đạo nghĩa cơ bản, khiến quân đội của chúng ta phải ra tay, với lý do đó để lấy lại những vùng biển đảo đã mất.
3. Việt Nam có lực lượng quân sự lớn nhất Đông Nam Á. Hơn nữa lại đang tăng cường phát triển lực lượng hải quân, không quân để đối đầu với ta. Quân đội của ta có thể phát động cuộc chiến Nam Sa, cho dù quân đội Việt Nam đã có chuẩn bị. Với chiến thắng trong cuộc chiến này, hoàn toàn có thể làm cho các nước khác thua chạy, không đánh mà lui. Đây là cách để loại trừ Việt Nam, làm cho Việt Nam ngày càng lụn bại.
4. Hai nước Trung – Việt xích mích đã lâu, đã từng nảy sinh tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải, lần này lại xảy ra xung đột quân sự. Đây là điều mà thế giới đã dự đoán và đã sớm nghe quen tai với việc này, chắc chắn phản ứng sẽ nhẹ nhàng hơn. Trái lại, nếu tấn công vào các nước như Philipin thì phản ứng quốc tế nhất định sẽ rất mạnh mẽ.
5. Các nước khác tuy cùng trong khối ASEAN nhưng chế độ xã hội và ý thức hệ khác với Việt Nam, các nước khác lại ủng hộ Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, thời gian đó đã sinh ra những khúc mắc. Là liên minh ASEAN, khi chúng ta phát động chiến tranh thu hồi lại Nam Sa ắt sẽ gặp phải sự phản đối của ASEAN, nhưng hậu quả của cuộc tấn công Việt Nam sẽ tương đối nhỏ, vì Việt Nam đã từng có ý đồ thiết lập bá chủ khu vực, việc này đã làm cho các nước láng giềng có tinh thần cảnh giác, việc làm suy yếu lực lượng quân sự của Việt Nam cũng là điều tốt cho các nước ASEAN.
6. Tình hình quốc tế gần đây có lợi cho việc giải quyết vấn đề Nam Sa. Quan hệ Trung – Mỹ ; Trung – Nga đang ở thời kỳ tốt nhất, không phải vì thế mà dẫn đến sự đối đầu về quân sự giữa các nước lớn. Quân đội Mỹ đang sa lầy vào chiến trường Afganistan, Iraq và vẫn phải chuẩn bị ứng phó với chiến tranh có thể xảy ra với Iran, chưa rảnh tay để quan tâm tới chiến sự Nam Sa. Hơn nữa tranh chấp đảo giữa Nhật Bản và Hàn Quốc, tranh chấp giữa Campuchia và Thái lan đều sẽ làm phân tán sự chú ý của cộng đồng quốc tế.
7. Quần đảo Nam Sa là một vị trí chiến lược không thể thiếu của Trung Quốc trên trận tuyến kéo dài từ Trung Đông đến Viễn Đông, tuy eo biển Malacca là con đường yết hầu nhưng quần đảo Nam Sa không phải là không có vị trí chiến lược. Có được Nam Sa sẽ uy hiếp được Malacca, yểm trợ các đường ống dẫn dầu, Nam Sa là một trong những vùng hiểm yếu, Trung Quốc quyết không ngần ngại chiến đấu để thu hồi Nam Sa.
8. Lấy chiến tranh để luyện tập quân đội, lấy việc thực hiện chiến tranh để kiểm nghiệm và nâng cao năng lực chiến đấu của quân ta, tình hình phát triển của hai bờ Đài Loan – Hải Nam có thể đảm bảo để hai bên bờ sẽ không xảy ra chiến tranh trong tương lai gần, giải quyết triệt để vấn đề Nam Hải, trong khi thực hiện chiến tranh trên biển phải khảo sát những thiếu sót của hải quân, không quân của Trung Quốc để kịp thời nhận diện những khiếm khuyết, cải thiện, nâng cấp, nhằm phát triển càng nhanh càng tốt lực lượng hải quân không quân của ta, để chứng tỏ rằng quân đội ta là lực lượng quân đội theo mô hình mới, có kinh nghiệm chiến đấu hiện đại, chuẩn bị sẵn sàng cho chiến sự Đài Loan – Hải Nam hoặc để đối phó với những thách thức khác có thể phát sinh. Lực lượng hải quân, không quân của Việt Nam không thể xem là quá mạnh cũng không thể xem là quá yếu, chúng phù hợp với việc luyện tập quân đội của ta.
9. Việc thiết lập hợp tác quân đội với Đài Loan có thể còn nhiều khó khăn, sự bất đồng giữa hai bờ Đài Loan – Hải Nam có thể tồn tại, nhưng việc thu hồi Nam Sa thì hai bên lại có chung một lập trường. Mặc dù không thể mời quân đội Đài Loan cùng tham chiến, nhưng trước và sau trận chiến đều cùng nhau tiến hành các hoạt động như : cung cấp nguyên vật liệu, thiết bị bảo trì, nhân viên xử lý, máy bay, tàu chiến do nhu cầu cần thiết hạ cánh hoặc cập bến trong chiến tranh, chắc chắn rằng sự phối hợp hai quân đội sẽ góp phần vào đoàn kết, thống nhất quốc gia.
10. Việt Nam là bọn tham lam, kiêu ngạo, vô lễ, tuyệt đối không thể thông qua đàm phán để chiếm lại quần đảo Nam Sa, không chiến đấu thì không thể thu hồi lại biên cương quốc thổ. Như vậy, cuộc chiến Nam Sa là không thể tránh khỏi, đánh muộn không bằng đánh sớm, bị động ứng phó không bằng chủ động tấn công.
Vẫn còn rất nhiều lý do nhưng không tiện để nêu ra cụ thể từng lý do được.
Mặc dù nói chúng ta đánh Việt Nam như đánh bạc nhưng việc thu hồi Nam Sa quả thực không phải chuyện nhỏ. Hải quân và không quân Việt Nam cũng đang dần hiện đại hóa cho nên ta quyết không đánh giá thấp đối phương, bắt buộc phải làm tốt công tác chuẩn bị, không đánh thì thôi, đã đánh là phải thắng nhanh. Trong khi bàn việc lấy lại Nam Sa vấn đề không phải là xét xem có thể thành công hay không mà phải xét xem thắng lợi có triệt để hay không, những tổn thất, rủi ro có phải là nhỏ nhất hay không và kết quả cuối cùng có phải là tốt đẹp nhất không… Vì thế cần phải xác định 4 mục tiêu rõ ràng. Đó phải là, xuất một đường quyền đẹp mắt về chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao.
Trên lĩnh vực quân sự, đáng tiếc rằng Việt Nam đã làm những việc gây phản ứng mãnh liệt như xâm chiếm nhiều đảo mới, giam giữ ngư dân và tàu đánh cá Trung Quốc. Ta tuyên bố rằng lãnh thổ lãnh hải nước ta không dễ dàng xâm chiếm, bắt buộc Việt Nam trả lại những đảo đã xâm chiếm, nhanh chóng hoàn thành việc triển khai quân sự tại Nam Hải. Nếu quân đội Việt Nam không chịu thì Trung Quốc sẽ tiến hành tấn công xua đuổi, kẻ nào dám phản kháng ta kiên quyết diệt trừ, nếu tăng viện trợ máy bay tàu chiến cho Việt Nam thì sẽ bắn hạ, bắn chìm hết. Quân đội Việt Nam đã trang bị một số lượng nhất định máy bay, tàu chiến và tên lửa tiên tiến do Nga sản xuất. Quân đội của ta sẽ huy động tiềm lực hải quân, không quân để phong tỏa những căn cứ hải quân, không quân của chúng. Quân đoàn pháo binh thứ hai cần làm tốt việc che giấu những cứ điểm chiến lược hiểm yếu, không quân và chiến hạm cần làm tốt công tác dự báo; cung cấp nhiên liệu cho kế hoạch tấn công lâu dài ở căn cứ phía Nam. Lực lượng trên mặt đất phải luôn luôn sẵn sàng ứng phó với các cuộc tấn công quấy nhiễu của quân đội Việt Nam ở khu vực biên giới bất kỳ lúc nào; phải thực hiện phá hủy các căn cứ hải quân không quân ở miền Bắc. Tóm lại, ta sẽ lấy việc tấn công Việt Nam như là cuộc diễn tập để giải phóng Đài Loan, một khi tình hình đã lan rộng thì sẽ triệt để phá hủy lực lượng hải quân, không quân Việt Nam.
Trên lĩnh vực chính trị, vạch trần việc các nước như Việt Nam xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải nước ta, nhắc lại rằng nước ta muốn duy trì phương châm hòa bình, nhưng chúng ta không thể hòa bình với những kẻ xâm hại đất nước ta. Cho dù xảy ra rồi thì chúng ta không mong nhìn thấy xung đột quân sự. Trung Quốc hy vọng rằng các bên liên quan nên ngồi lại tiến hành đàm phán hòa bình để nhanh chóng kết thúc chiến tranh. Nếu các nước như Việt Nam chịu khuất phục trước sức ép quân sự to lớn của nước ta thì nước ta sẽ không sử dụng biện pháp vũ lực nữa, sẽ mở rộng tiếng nói quốc tế của nước ta.
Trên lĩnh vực ngoại giao, một khi chiến sự xảy ra, cộng đồng thế giới chắc chắn sẽ đưa ra bốn chữ “phê phán, phản đối”. Chúng ta cần nhanh chóng tranh thủ sự thông cảm của Mỹ, Nga, Liên minh Châu Âu, nhiệm vụ quan trọng nhất của hoạt động ngoại giao là nắm được mục tiêu của các nước ASEAN, cố gắng bình tĩnh trước sự phẫn nộ và hoảng hốt của họ, khiến họ tin tưởng rằng Trung Quốc vô cùng coi trọng quan hệ với ASEAN, tuyệt đối không làm tổn hại đến lợi ích của các quốc gia ASEAN ngoại trừ Việt Nam, Trung Quốc sẽ làm cho mức độ phản ứng của họ giảm xuống mức tối thiểu.
Trên lĩnh vực kinh tế, để chung sống hòa bình cần thực hiên chiến lược “Dùng đất đai đổi lấy hòa bình”. Để hòa bình phát triển thì cần thực hiện chiến lược “Dùng tiền bạc đổi lấy đất đai”. Đối với quần đảo Nam Sa thì lại phải thực hiện phương châm “chủ quyền thuộc về tôi, cùng nhau phát triển, thỏa hiệp hòa bình, chia sẻ lợi ích” thiết lập một số khu vực cùng phát triển ở giáp giới các nước ASEAN gần quần đảo Nam Sa. Lấy nước ta làm chủ, lần lượt cùng hợp tác phát triển với Philipin, Malaysia, Bruney... giúp các đối tác cùng có lợi. Mục đích của các nước này muốn chiếm đảo là vì muốn đạt được lợi nhuận dầu mỏ, giúp cho họ kiếm được tiền mà họ muốn, làm cho nó dễ dàng đồng ý chủ quyền Trung Quốc. Nếu Việt Nam đồng ý với chính sách này thì có thể cũng nhận được một phần nào đó.
Với ý đồ lấy phương thức hòa bình để giải quyết tranh chấp Nam Sa thì kết quả cuối cùng Nam Sa quần đảo ắt bị chia cắt. Tất cả những đảo bị chiếm giữ là do ban đầu lực lượng quân đội của nước ta không đủ, khi có đủ năng lực thì không cần phải do dự mà không quyết định, việc sử dụng vũ lực chắc chắn sẽ dẫn đến có sự phản đối. Cùng năm đó, Anh ra sức tranh đoạt đảo Falklands cũng đã bị lên án chỉ trích nhiều, nhưng khi đảo Falklands đã nằm trong tay nước Anh, ai đã có thể làm gì họ. Nếu Việt Nam nguyện làm đầu têu thì phải đánh cho chúng không kịp trở tay.
Hãy giết chết bọn giặc Việt Nam để làm vật tế cờ cho trận chiến Nam Sa. @@@
Gs. Vũ Cao Đàm dịch
theo Nguyên bản tiếng Trung Quốc trên Điện báo “Trung Quốc Binh khí Đại toàn”
越南——复南沙之战的祭

Phát biểu khai mạc Hội thảo, đồng chí Ðinh Thế Huynh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư T.Ư Ðảng, Trưởng Ban Tuyên giáo T.Ư nhấn mạnh, sự kiện Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, cách đây 100 năm được thực tiễn lịch sử đã khẳng định, đó là sự mở đầu cho một cuộc hành trình vĩ đại, vô cùng gian lao, quả cảm và sáng tạo suốt 30 năm đi tìm chân lý, tìm con đường giải phóng cho cả dân tộc Việt Nam của Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh. 12793.jpgVà thật là kỳ diệu, sự khởi đầu đó đã đi vào lịch sử dân tộc như một sự kiện lớn lao, một mốc son đánh dấu giai đoạn lịch sử vẻ vang, mở ra Cuộc hành trình của toàn dân tộc Việt Nam đoàn kết một lòng, kiên cường đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc, thống nhất non sông, vững bước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội...
Ðồng chí Ðinh Thế Huynh khẳng định: Thành quả vĩ đại của cuộc hành trình 30 năm tìm đường cứu nước của Bác Hồ thể hiện ở chỗ: Những câu hỏi lớn nhất đối với dân tộc Việt Nam, với cách mạng Việt Nam, mà trước đó chưa ai tìm được câu trả lời, đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh giải đáp sáng tỏ, đầy sức thuyết phục.
Tư tưởng của Hồ Chí Minh về dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, về Ðảng Cộng sản Việt Nam, về đại đoàn kết toàn dân tộc - động lực vô địch của cách mạng nước ta, về Nhà nước của dân, do dân, vì dân, về sức mạnh vĩ đại của nhân dân..., trở thành tài sản tinh thần vô giá của Ðảng ta, dân tộc ta. Giá trị lịch sử sâu xa của cuộc hành trình tìm đường cứu nước và của toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là ở lời giải cho những vấn đề vô cùng lớn lao và hệ trọng đó... Ðồng chí nhấn mạnh: Cuộc Hội thảo hôm nay nhằm thực hiện công việc nhiều ý nghĩa nêu trên, không chỉ góp phần khẳng định sâu sắc hơn ý nghĩa và giá trị lịch sử lớn lao của cuộc hành trình vĩ đại đó, mà còn góp phần tìm ra những bài học lớn cho hiện tại và tương lai của dân tộc...
cáo đề dẫn Hội thảo khoa học, đồng chí Nguyễn Văn Ðua, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy TP Hồ Chí Minh cho biết: Sau gần ba tháng triển khai, với sự quan tâm của các đồng chí lãnh đạo Ðảng và Nhà nước, các đồng chí  lão thành cách mạng, sự ủng hộ nhiệt tâm của các nhà khoa học, các nhà quản lý từ mọi miền đất nước, Ban Tổ chức Hội thảo đã nhận được 135 bài tham luận. Các báo cáo khoa học đã thể hiện tình cảm thiêng liêng, lòng kính trọng yêu thương đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ vĩ đại của dân tộc ta, của Ðảng ta, Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Với lòng tôn kính và trách nhiệm cao, các tác giả của các tham luận đã dày công nghiên cứu, suy nghĩ, tìm tòi những tư liệu và nội dung khoa học phong phú liên quan đến chủ đề Hội thảo.
Cuộc Hội thảo tập trung vào các mảng nội dung cơ bản là:
1. Trong bối cảnh lịch sử của nước ta cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 Nguyễn Tất Thành quyết chí tìm đường cứu nước, Hội thảo cần làm rõ mối quan hệ tương tác giữa yếu tố khách quan  và chủ quan, giữa truyền thống yêu nước, bối cảnh xã hội Việt Nam đầu thế kỷ 20, truyền thống gia đình quê hương với trí tuệ, nghị lực, tư chất, tố chất của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành dẫn đến sự kiện mang ý nghĩa lịch sử và thời đại cách đây 100 năm ngày 5-6-1911.
2. Từ thành phố Sài Gòn, Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước là một mảng nội dung quan trọng của Hội thảo.
Các tham luận của các nhà khoa học đều có sự đánh giá thống nhất: Sài Gòn, nơi tuy Bác dừng chân ngắn nhất, lại có vai trò quyết định đối với sự lựa chọn con đường cứu nước của Người, là nơi giải đáp cho Bác nhiều hoài nghi mà chỗ khác không đủ điều kiện... Ðó là nơi định đoạt dứt khoát thái độ của Nguyễn Tất Thành - Văn Ba - Bác Hồ của chúng ta vào năm 1911 để từ thành phố này Người xuất dương tìm đường cứu nước.
3. Cuộc hành trình vĩ đại trong mấy thập kỷ, qua hàng chục nước của các châu lục Á - Âu - Phi - Mỹ, lao động, học tập, nghiên cứu, hoạt động cách mạng để tìm ra con  đường cho cách mạng Việt Nam là nội dung chính của Hội thảo. Hầu hết các bài viết thể hiện tinh thần khoa học và nêu lên những đánh giá, nhận thức sâu sắc trên cơ sở tổng kết sự kiện lịch  sử, bổ sung những tư liệu mới, làm rõ chặng đường 30 năm bôn ba khắp đó đây của Nguyễn Ái Quốc, vừa tìm đường cứu nước, vừa kiên trì chiến đấu đầy bản lĩnh và trí tuệ để bảo vệ con đường giải phóng dân tộc Việt Nam.
4. Hội thảo không chỉ khẳng định sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc, sự lựa chọn đúng đắn, sáng suốt và công lao to lớn của Bác Hồ, mà còn nhằm mục đích quan trọng là từ đó chúng ta càng phấn khởi, củng cố niềm tin, tiếp tục giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vững bước trên con đường Người đã chọn, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, thực hiện thành công công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế nhanh và bền vững, đồng bộ, hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, xây dựng quốc phòng, an ninh vững mạnh, xây dựng Ðảng, hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh, xây dựng đất nước ta 'đàng hoàng hơn, to đẹp hơn' theo mục tiêu 'dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh'.
12795.jpgPGS, TS Phạm Văn Linh, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo T.Ư cho rằng, việc Nguyễn Ái Quốc nhanh chóng tiếp nhận ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười thể hiện sự thống nhất giữa tác động của điều kiện khách quan với yếu tố chủ quan trong nhận thức và hành động của Người.
Những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc tại Pháp  làm phong phú hơn nhận thức của Người về sức mạnh của nhân dân lao động thế giới, về mối quan hệ giữa các dân tộc bị áp bức, giữa thuộc địa và chính quốc trong cuộc đấu tranh chống đế quốc. Ðây là một cơ sở quan trọng để Người tiếp nhận con đường cách mạng vô sản, trong tình hình thế giới và Pháp lúc bấy giờ đang có nhiều chuyển biến to lớn, sâu sắc.
Ðánh dấu bước chuyển biến quan trọng trong tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc về mối quan hệ giữa cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc với phong trào cộng sản quốc tế là quan điểm của Người được trình bày trong Ðại hội lần thứ XVIII của Ðảng Xã hội Pháp, khai mạc ngày 25-12-1920 tại thành phố Tua. Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành Ðảng Xã hội Pháp gia nhập Quốc tế Cộng sản.
Người xác định, con đường cứu nước và giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam là con đường cách mạng vô sản.
Con đường cứu nước do Nguyễn Ái Quốc lựa chọn cho nhân dân Việt Nam phù hợp với xu thế phát triển chung của lịch sử thế giới: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản. Con đường cứu nước mới không chỉ có ý nghĩa đối với nhân dân Việt Nam mà còn có ý nghĩa quốc tế và thời đại. Nó có tác dụng đối với nhân dân các nước thuộc địa trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Chu Ðức Tính, Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh, phân tích sâu sắc sự vận dụng và phát triển học thuyết Mác - Lê-nin về đấu tranh giai cấp trong  cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam, của Chủ tịch Hồ Chí Minh... Tiếp thu quan điểm của Lê-nin, Hồ Chí Minh cũng là người phát hiện ra mối liên hệ hữu cơ giữa cách mạng vô sản ở các nước chính quốc và cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa. Người đã diễn tả rất sinh động và dễ hiểu mối quan hệ này bằng việc ví chủ nghĩa đế quốc như con đỉa có hai vòi, một vòi hút máu giai cấp vô sản ở chính quốc, một vòi hút máu các dân tộc thuộc địa. Giai cấp vô sản, muốn thắng lợi, phải cùng một lúc cắt bỏ cả hai vòi đi. Người cũng dùng hình ảnh con chim có hai cánh khi nói về sự liên quan giữa cách mạng ở  chính quốc và cách mạng ở thuộc địa.
Ðiều phát triển hơn của Hồ Chí Minh là Người không chỉ thấy mối quan hệ, mà với sự phân tích đúng đắn mâu thuẫn của các nước đế quốc với các nước thuộc địa, giữa đế quốc với đế quốc và khả năng to lớn của các dân tộc bị áp bức mở ra sau Cách mạng Tháng Mười... Việc Hồ Chí Minh quan niệm cách mạng giải phóng dân tộc có thể thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc và góp sức đẩy mạnh cách mạng vô sản ở chính quốc đến thắng lợi là có cơ sở khoa học, xuất phát từ cái nhìn biện chứng về cách mạng thuộc địa của Người. Và rồi trong thực tiễn, với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam, Hồ Chí Minh đã cùng Ðảng Cộng sản Việt Nam chứng minh cho luận điểm đầy tính chiến đấu và cách mạng của mình.

12799.jpgTrung tướng GS, TS Trần Ðại Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Thứ trưởng Công an tham luận tại Hội thảo nhấn mạnh: Sáu điều Bác Hồ dạy người công an cách mạng là đạo lý, nguyên tắc, phương châm, thái độ đối nhân xử thế, là chuẩn mực về nhân cách mà mỗi cán bộ, chiến sĩ công an dù ở bất kỳ cương vị nào, hoàn cảnh công tác nào đều phải thường xuyên rèn luyện, phấn đấu. Sáu điều Bác Hồ dạy là di sản quý báu thể hiện đậm nét nhất tư tưởng, quan điểm của Bác về xây dựng người công an cách mạng suốt đời vì nước, vì dân.
Là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự, được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm, chăm lo, xây dựng và dìu dắt, hơn 65 năm qua, lực lượng Công an Nhân dân luôn tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Ðảng, vì nhân dân phục vụ. Suốt chặng đường xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ công an luôn tích cực hưởng ứng và tự giác thực hiện Sáu lời dạy của Bác với những nội dung sáng tạo, thiết thực, hình thức phong phú, bám sát yêu cầu công tác, chiến đấu và xây dựng lực lượng.
Việc học tập, thực hiện Sáu điều Bác dạy không chỉ dừng lại ở chỗ nghiên cứu, thấm sâu nhận thức, mà còn biến thành hành động, thể hiện ở những việc làm cụ thể, thiết thực hằng ngày của từng người. Trong suy nghĩ và việc làm, mỗi cán bộ, chiến sĩ công an dù là lãnh đạo, chỉ huy hay cán bộ, chiến sĩ đều lấy Sáu điều dạy của Bác, tấm gương đạo đức của Bác để tự soi mình, tự sửa mình, phấn đấu để không ngừng hoàn thiện bản thân. Qua đó, nêu cao vai trò nòng cốt trong bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc, được Ðảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận, đánh giá cao.
Cũng từ việc học tập, thực hiện Sáu lời dạy của Bác, lực lượng Công an Nhân dân đã không ngừng xây dựng mối quan hệ gắn bó máu thịt với nhân dân, nêu cao tinh thần phục vụ nhân dân; dựa vào dân để công tác, chiến đấu và xây dựng lực lượng, được nhân dân tin yêu, giúp đỡ, tích cực tham gia công tác bảo vệ an ninh, trật tự, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
12800.jpgThiếu tướng, TS Ðặng Nam Ðiền, Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập việc phát huy ý nghĩa lịch sử chính trị, văn hóa công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giáo dục truyền thống cách mạng. Ðồng chí nêu rõ: Từ ngày 19-5-2001, nghi lễ chào cờ hằng ngày đã được tiến hành trang trọng trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hình ảnh của Tổ quốc với lãnh tụ được hòa quyện vào nhau, càng tôn thêm giá trị văn hóa, tinh thần và ý nghĩa chính trị của công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ðặc biệt từ năm 2006 đến nay, Bộ Chính trị phát động toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân triển khai Cuộc vận động 'Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh', các cấp, các ngành và các địa phương trong cả nước đã tích cực tổ chức nhiều hoạt động sinh hoạt chính trị có ý nghĩa trước Lăng Bác và Quảng trường Ba Ðình lịch sử. Về Lăng viếng Bác, đối với mỗi người dân Việt Nam như một nhu cầu tình cảm, một phong tục tập quán mới, một sinh hoạt truyền thống biết ơn cội nguồn, hướng về gốc rễ trước mỗi bước đi lên. Gần 36 năm qua, kể từ ngày mở cửa Lăng đến nay, dòng cảm tưởng của nhân dân trong nước, kiều bào ở nước ngoài và khách quốc tế đã được lưu giữ mỗi ngày một dài thêm... Mỗi người một vẻ, nhưng tựu chung lại là sự kính yêu, biết ơn vô hạn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và nguyện mãi mãi học tập và làm theo lời Bác dạy.
12801.jpgNguyên Viện trưởng Viện KHXH tại TP Hồ Chí Minh, GS Nguyễn  Công  Bình, nhấn mạnh: Khi Nguyễn Ái Quốc chủ trương 'Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản', tức là một đường lối cứu nước mới có định hướng xã hội chủ nghĩa cho cách mạng giải phóng dân tộc. Theo định hướng đó, dân tộc ta làm Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, thiết lập chế độ dân chủ nhân dân, đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giành độc lập, thống nhất, đưa Việt Nam bước vào thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Nhưng Người cũng chỉ ra: 'Cách mạng xã hội chủ nghĩa là một cuộc biến đổi khó khăn nhất và sâu sắc nhất. Chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới xưa nay chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta'. Kế thừa con đường Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh định hướng xã hội chủ nghĩa cho cách mạng giải phóng dân tộc, Ðảng Cộng sản Việt Nam định hướng xã hội chủ nghĩa cho công cuộc Ðổi mới từ năm 1986. Ðó là thiết lập một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ðồng chí Lê Thanh Hải,  Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh trình bày tham luận 'Vững bước trên con đường Người đã chọn - gắn bó mật thiết với nhân dân, xây dựng Ðảng bộ thành phố Hồ Chí Minh trong sạch, vững mạnh'.
12802.jpgTham luận đã nêu rõ: Chủ tịch Hồ Chí Minh xem việc xây dựng Ðảng là điều kiện tiên quyết của cách mạng Việt Nam. Người đã suốt đời chăm lo công tác xây dựng Ðảng. Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Ðảng bộ thành phố Hồ Chí Minh thường xuyên chăm lo xây dựng Ðảng trong sạch, vững mạnh.
Ðồng chí Bí thư Thành ủy nêu rõ mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp nhằm xây dựng Ðảng bộ trong sạch, vững mạnh, ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Ðảng bộ phải tăng cường giáo dục truyền thống yêu nước và cách mạng, chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xây dựng niềm tin vững chắc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ về vai trò lãnh đạo của Ðảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước, tạo ra sự thống nhất về tư tưởng và hành động trong Ðảng bộ và sự đồng thuận trong nhân dân. Ðồng thời, phải đẩy mạnh việc thực hiện học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, tiếp tục làm cho toàn Ðảng bộ, toàn dân, toàn quân thành phố nhận thức sâu sắc những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh; tạo chuyển biến mạnh mẽ và sâu rộng hơn nữa về ý thức tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội thực dụng, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn tham nhũng, tiêu cực. Phải coi đây là công việc thường xuyên hằng ngày, là trách nhiệm cụ thể, thiết thân của cán bộ, đảng viên và nhân dân; phải thực hiện trở thành nền nếp, đi vào chiều sâu, căn bản, toàn diện trong Ðảng bộ và nhân dân theo phương châm 'tích cực học tập, nỗ lực làm theo'; phấn đấu ngày càng có  thêm nhiều điển hình noi gương và nêu gương, nhất là trong cán bộ chủ chốt, người đứng đầu đơn vị, địa phương; góp phần xây dựng nền tảng văn hóa, đời sống tinh thần xã hội lành mạnh.
12804.jpgÐồng chí Phan Ðình Trạc, Ủy viên T.Ư Ðảng, Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An tâm niệm rằng, truyền thống quê hương xứ Nghệ là nguồn cội thúc đẩy Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước.
Sinh ra trong một gia đình yêu nước, chứng kiến sự thất bại của các phong trào yêu nước, các cuộc khởi nghĩa diễn ra trên chính quê hương mình và sự thất bại của các bậc tiền nhân... đã nung nấu, thôi thúc Hồ Chí Minh ra đi và tìm kiếm một con đường cứu nước mới. Chính mạch nguồn truyền thống yêu nước của vùng đất 'địa linh nhân kiệt' này như một lẽ tự nhiên không chỉ sản sinh ra Hồ Chí Minh mà còn góp phần tạo nền móng để hình thành hoài bão ra đi tìm đường cứu nước của Người. Nhờ sớm được bồi đắp truyền thống lao động từ quê nhà, Người đã ra đi tìm đường cứu nước trong tư thế của một người lao động với hai bàn tay trắng. Và trên hành trình tìm đường cứu nước, chính lao động không chỉ giúp mưu cầu sự sống mà còn là một phương cách hữu hiệu để Người hoạt động yêu nước, hoạt động cách mạng, thấu hiểu được tâm tư, tình cảm và ước vọng của giai cấp cần lao, tiếp thu và vận dụng thành công Chủ nghĩa Mác - Lê-nin - hệ tư tưởng của giai cấp vô sản vào hoàn cảnh của Việt Nam.

Ðồng chí Hà Ngọc Chiến, Ủy viên T.Ư Ðảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HÐND tỉnh Cao Bằng phân tích sâu sắc những quyết định quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Cao Bằng đối với cách mạng Việt Nam những năm 1941-1945.
12803.jpgTrải qua nhiều năm bôn ba hải ngoại tìm đường cứu nước, cứu dân, sau khi nắm chắc con đường giải phóng dân tộc, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc luôn khát khao trở về Tổ quốc lãnh đạo cách mạng. Với tầm nhìn chiến lược của một vị lãnh tụ thiên tài, Người đã phát hiện Cao Bằng là nơi hội tụ đủ cả 'Thiên thời, địa lợi, nhân hòa' nên Bác chọn Cao Bằng để về nước.
Ngày 28-1-1941 (tức ngày mồng 2 Tết Tân Tỵ), Nguyễn Ái Quốc qua mốc 108 (cũ) biên giới Việt Nam - Trung Quốc về đến Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Ðồng bào Pác Bó - Cao Bằng vinh dự, tự hào thay mặt nhân dân cả nước đón Người  trở về Tổ quốc, trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Tại Pác Bó, Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập và chủ trì Hội nghị T.Ư lần thứ tám (họp tại lán Khuổi Nặm - Pác Bó vào tháng 5-1941), hoàn chỉnh sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược đối với cách mạng Việt Nam, tập trung sức mạnh toàn dân cho cách mạng giải phóng dân tộc. Hội nghị Trung ương lần thứ tám xác định: Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia, dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được.
12805.jpgTheo PGS, TS Phạm Hồng Chương, Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Ðảng (Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh), cuộc hành trình ra nước ngoài tìm đường cứu nước, cứu dân của Nguyễn Tất Thành là sự kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong lịch sử đấu tranh vì sự sinh tồn và phát triển của dân tộc Việt Nam.
Bắt đầu từ khát vọng từ tuổi 13, Nguyễn Tất Thành đã 'muốn đi ra nước ngoài, xem nước Pháp', 'muốn làm quen với nền văn minh Pháp', nhưng không chỉ để thỏa mãn ước mơ hiểu biết của tuổi trẻ, mà là 'muốn tìm xem ẩn giấu đằng sau' những gì đã làm nên văn minh và sức mạnh của phương Tây; muốn 'xem cho rõ' sự 'làm ăn ra sao' của những cường quốc mà các nhà yêu nước Việt Nam đương thời kỳ vọng có thể giúp đất nước mình thoát khỏi ách thống trị thực dân; và 'sau khi xem xét họ làm thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta'.
Cuộc hành trình vĩ đại đến với các dân tộc, chủng tộc ở các châu lục, đặc biệt là trải qua thực tiễn đấu tranh cách mạng ở nhiều nước đã nâng cao trí tuệ, làm giàu văn hóa và mở rộng thế giới quan cho Người - từ tầm mức dân tộc đến nhân loại. Và Người đi tới khẳng định: Vấn đề giải phóng dân tộc, giải phóng con người không chỉ là nhu cầu của dân tộc và con người Việt Nam mà là của các dân tộc bị áp bức và nhân dân cần lao trên thế giới.
Ði từ Dân tộc đến Nhân loại, tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lê-nin là quá trình từ nhận thức cảm tính đến khoa học. Với thế giới quan khoa học và cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã phát hiện và nhận thức được quy luật tiến hóa, xu thế phát triển trong tiến trình đi lên của loài người và đi tới khẳng định: 'Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản'.
12806.jpgTrong tham luận, Hòa thượng Thích Trí Quảng, Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự T.Ư Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Trưởng Ban Trị sự Thành hội Phật giáo TP Hồ Chí Minh bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của Giáo hội Phật giáo Việt Nam đối với Hồ Chủ tịch và nêu rõ, Người là một nhân vật rất thân thương gần gũi với dân tộc chúng ta, một vị lãnh tụ tối cao của dân tộc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh việc xây dựng chủ nghĩa xã hội bằng con đường của Việt Nam, mà đại đoàn kết là một trong những tư tưởng ngời sáng của Người. Thực tế cho thấy, trong những thập kỷ qua, nếu không có sự đoàn kết, thì rõ ràng đất nước ta sẽ không có được độc lập - tự do - hạnh phúc như ngày hôm nay. Ðối với một đất nước đa tôn giáo, đa sắc tộc và chịu nhiều hy sinh, mất mát để giành lại quyền tự chủ từ tay các đế quốc hùng mạnh như Việt Nam ta, vấn đề đoàn kết, đặc biệt là đoàn kết theo tư tưởng Hồ Chí Minh - chính là kim chỉ nam để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, tạo nên nguồn sức mạnh vĩ đại, chiến thắng và đem đến nền hòa bình, hạnh phúc, thịnh trị cho dân tộc.
Ðặc biệt, đối với tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm mối đoàn kết tôn giáo, bởi đây cũng là một bộ phận cấu thành khối đại đoàn kết dân tộc. Người luôn coi trọng tất cả những đồng bào theo tôn giáo cũng như không theo tôn giáo. Người nói: 'Phải đoàn kết chặt chẽ giữa đồng bào lương và đồng bào tôn giáo, cùng nhau xây dựng đời sống hòa thuận ấm no, xây dựng Tổ quốc. Phải chấp hành đúng chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng đối với tất cả các tôn giáo'.
12808.jpgVới tham luận 'Tuổi trẻ thành phố Hồ Chí Minh mãi mãi đi theo con đường Bác Hồ đã lựa chọn', đồng chí Nguyễn Văn Hiếu, Bí thư Thành Ðoàn TP Hồ Chí Minh khẳng định:
Tìm hiểu cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta có thể khẳng định sự kiện Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước ngày 5-6-1911 là một sự kiện vĩ đại, có ý nghĩa bước ngoặt, đặt nền tảng cho việc hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh.
Trong suốt chặng đường lịch sử của mình, Ðoàn TNCS thành phố đã có những đóng góp to lớn trong công tác Ðoàn và phong trào thanh, thiếu nhi chung cả nước và trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ thành phố.
Tự hào là đoàn viên, thanh, thiếu nhi thành phố mang tên Bác Hồ kính yêu, cùng với tuổi trẻ cả nước, tuổi trẻ thành phố nguyện sẽ mãi mãi đi theo con đường mà Ðảng ta và Bác Hồ đã chọn, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xung kích, tình nguyện thực hiện sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.






No comments:

Post a Comment