Năm Tị, nói về Rắn và thủ thuật bắt Rắn
Chúng ta vừa chúc nhau “Merry Christmas and Happy New Year”dương lịch, bây giờ là lo mừng Xuân Quí Tị âm lịch, mồng một Tết nhằm ngày 10 tháng 2, 2013 DL.
Vậy
ta thử bàn về loài rắn và thủ thuật của người đi
bắt rắn làm thế nào cho không nguy hiểm? Và áp dụng
thủ thuật nầy thế nào cho bản thân ta hạnh phúc, đất
nước Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung, được
an bình?
Con
Rắn theo Thánh Kinh (Bible),
chính con Rắn đã làm cho loài người mang tội tổ tông
đời đời.. Khi Đức Chúa Trời dựng nên trời đất rồi
tạo ra thú vật và hai người khác phái đầu tiên là ông
Adam và bà Eva . Chúa tạo cả vườn Eden đẹp mắt, nhiều
cây trái ăn ngon và quí giá, như cây sự sống cùng cây
biết điều thiện và điều ác. Chúa muốn loài người
sung sướng, bèn đăt Adam và Eva vào vườn Eden để trồng
cây và giữ vườn với lời phán dạy: Ngươi được tự
do ăn mọi hoa quả các thứ trong vườn trừ cây biết
điều thiện và điều ác thì không được ăn, vì ăn vào
chắc sẽ chết.
Nhưng
trong loài thú đồng do Chúa tạo ra lại có con Rắn là
giống quỉ quyệt hơn hết, nó nói rằng nếu ăn trái cấm
ấy, hai người không chết đâu, Chúa chỉ sợ ăn trái
cây đó hai người sẽ mở mắt ra, sẽ được như Đức
Chúa Trời là biết điều thiện và điều ác đó thôi.
Eva nghe lời cám dỗ của con Rắn là ăn thứ trái cây đẹp
coi bộ ngon ngọt lại quí là mở được trí khôn mà
không chết, nên bẻ ăn, rồi trao cho chồng là Adam ăn
cùng. Ăn xong cả hai đều mở mắt ra thấy mình lõa lồ,
nên hổ thẹn, lấy lá cây đóng khố che thân.
Khi
Đức Chúa Trời đi qua vườn Eden, kêu Adam phán hỏi:
Ngươi ở đâu? Thưa: vì lõa lồ nên khi nghe tiếng Chúa,
con sợ, đang ẩn mình. Hỏi: Ai đã chỉ cho ngươi biết
mình lõa lồ? Eva thưa: Con Rắn đã dỗ dành nên con đã
ăn trái Chúa cấm rồi!
Từ
đó Chúa phán về tội loài Rắn: trong các loài thú đồng,
mày sẽ bò bằng bụng và ăn bụi đất trọn cả đời.
Về loài người, Đức Chúa Trời phán cùng Adam: ta sẽ
làm cho dòng dõi mầy cùng dòng dõi người nữ nghịch thù
nhau. Vì ngươi nghe lời vợ mà ăn trái cây ta đã dặn
không ăn, vậy trọn đời ngươi phải chịu khó nhọc làm
việc mới có vật đất sanh ra mà ăn cho đến khi nào
người trở về với đất là nơi có ngươi, vì ngươi là
bụi, ngươi sẽ trở về với đất bụi. Với Eva—là mẹ
của cả loài người-- Đức Chúa Trời phán: ta sẽ thêm
điều cực khổ bội phần trong cơn thai nghén, ngươi sẽ
chịu đau đớn mỗi khi sanh con. Chồng ngươi sẽ cai trị
ngươi.
Chúa
cũng phán chung cho thủy tổ loài người: Khi biết phân
biệt điều thiện và điều ác, loài người đã thành
một bực như chúng ta, vậy bây giờ ta phải coi chừng, e
loài người giơ tay lên cũng hái trái cây sự sống mà ăn
để được sống đời đời chăng, Đức Chúa Trời bèn
đuổi loài người ra khỏi vườn Eden để cày cấy đất
là nơi từ đó có loài người.
Như
vậy, Đức Chúa đã tạo đất đai để con người sinh
sống, dùng Con Rắn để cảnh cáo về sự cám dỗ đưa
đến tội lỗi bị trừng phạt, rồi trở về với cát
bụi. Còn Đức Phật?
Ðức
Phật
với
“Kinh
Người Bắt Rắn”
(Alagaddupamasutta) và đặc biệt nhấn mạnh về thủ thuật
bắt Rắn sao cho không nguy hiểm? Rằng người đi bắt
rắn khôn ngoan và khéo léo, khi gặp rắn lớn họ biết
sử dụng một cây có nạng sắt, ấn nạng ngay xuống cổ
rắn và lấy tay bắt ngay đầu rắn. Rắn kia tuy có thể
quẩy đuôi, quấn tay, quấn chân hoặc một bộ phận khác
của cơ thể người bắt rắn, nhưng không thể nào mổ
người ấy được. Bắt rắn như vậy không cực khổ mà
cũng không lao nhọc, chỉ vì người ấy biết rõ thủ
thuật bắt rắn.
Ðây
là lời được dịch từ chữ Phạn ra chữ Hán đời Ðông
Tấn vào khoảng năm 397- 398 của “Kinh
Người Bắt Rắn”.
Xưa nay ít nghe ai đem Con Rắn để thí dụ cho giáo pháp
hay chủ thuyết của mình. Thường lãnh tụ tôn giáo nào
cũng dứt khoát cho rằng đạo mình là tuyệt vời nhất.
Như chủ thuyết Mac-Lênin thì người Cộng Sản nhất định
cho là con đường duy nhất đem lại thiên đàng cho hạ
giới.
Nhưng
Đức Thích Ca trái lại thường nhắc nhở rằng giáo pháp
của Ngài có thể trở nên nguy hiểm nếu học hỏi không
nghiêm chỉnh và thực hành không chính xác.
Mặc
dù khi Thành Ðạo, đức Thích Ca giảng pháp thu hút được
nhiều vì Vua các nước qui y nhưng Ngài không bao giờ cho
giáo lý của mình là một chủ thuyết, mà nói đó chỉ
là một phương tiện hướng dẫn thực hành. Ðức Phật
như một lương y mà giáo lý của Ngài là lương dược.
Nhưng thuốc men cần biết dùng cho đúng bệnh thì mới
chữa lành bệnh tật, nếu không thì cũng có thể nguy
hiểm cho tánh mạng bệnh nhân.
Với
kinh “Người bắt Rắn”, dân gian thường thực hành rất
giản dị đối với con Rắn độc Cộng Sản: “Đập
rắn phải đập cái đầu trước”..Nhưng
ở đây Đức Phật không
nói đến
“Đập chết” mà
chỉ đưa ra cách “bắt sống” khi gặp nó hầu tránh
hại tánh mạng con người ở nhiều khía cạnh khác
Kinh
Phật kể lại rằng tại tu viện Trùng Các trong rừng Ðại
Lâm gần thành phố Vaisali, trong một mùa an cư kiết hạ
đã có mấy thầy tự tử vì đã nghe Phật giảng về vô
thường, vô ngã và bất tịnh. Còn có một bài giảng bị
đệ tử nghe lầm là “Hưởng
thụ dục lạc không trở ngại cho sự tu tập”
rồi đi giảng lại cho các sư đệ khác. Lâu dần nhiều
người ngạc nhiên, đã đến chất vấn: “Có thật Sư
huynh dạy Đức Thế Tôn giảng
như vậy không”? Vị Sư huynh nầy đã nghe “An lạc”
thành “dục lạc”. Các Thầy nầy đã trực tiếp nghe
Phật giảng mà còn hiểu lầm Phật, huống hồ gì nghe
gián tiếp, là cách nghe qua kinh sách của chúng sinh hiện
tại. Dân gian ta hiểu nôm na là “Tam sao thất bổn”.
Chính
vì có những thầy hiểu lầm Phật nguy hiểm như vậy mà
Ngài giảng “Kinh Người Bắt Rắn”. Vì khi hiểu lầm
rồi thì cứ cố chấp vào đó mà đưa đến sự sai lầm
khác thành to chuyện. Đức Phật dùng ví dụ Bắt Rắn để
diễn tả sự hiểm nguy của cái học thiếu thông minh và
khéo léo. Việc hiểu lầm và hành lầm giáo lý của Đức
Phật đã xãy ra ngay trong thời Ngài còn tại thế. Nên
mục đích Ngài giảng thủ thuật bắt Rắn là giúp con
người
Làm
sao tránh Hiểu lầm và Cố chấp (vướng
mắc)?
Tránh
được hai vấn đề nầy, là giúp chính gia đình biết
tha thứ, không gây gổ, hạnh phúc; xã hội, đất nước
an vui và thế giới hòa bình vì tránh được chiến tranh.
Xin
đơn cử một chuyện ngụ ngôn “Chim
Trĩ”
trong kinh Bách Dụ, tuy rất buồn cười mà cũng rất hay,
nói về vấn đề vướng mắc vào ý niệm và ngôn từ.
Một chàng N nọ bị ốm. Ông thầy thuốc tới thăm mạch,
bảo rằng chim trĩ trị được bệnh anh ta. Ông thầy
thuốc ra về, chàng N cứ lặp đi lặp lại hai tiếng chim
trĩ suốt
ngày. Mấy tháng qua rồi mà vẫn chưa lành bệnh. Có người
bạn tới thăm, thấy chàng ta cứ lặp đi lặp lại hai
tiếng chim
trĩ, lấy
làm lạ, bèn hỏi.
Anh chàng
thuật lại câu nói của ông thầy thuốc. Thương hại,
người bạn lấy bút vẽ một con chim trĩ lên giấy, chỉ
cho chàng N và bảo: “Chim trĩ là cái này này, anh cứ ăn
nó đi thì mới lành bệnh, chứ cứ lặp đi lặp lại mãi
hai tiếng chim
trĩ thì làm sao lành bệnh được?” Người
bạn vừa đi khỏi, chàng N bèn bỏ tờ giấy có hình chim
trĩ vào miệng, nhai và nuốt. Vẫn chưa lành bệnh, chàng
ta thuê thợ vẽ đến vẽ thêm hàng trăm bức tranh chim
trĩ nữa để mà nhai và nuốt, nhưng cũng không có hiệu
nghiệm gì. Bệnh tình càng lúc càng tăng. Một hôm ông
thầy thuốc ghé lại nhà. Thấy tình trạng như thế, ông
đem lòng thương hại. Ông đưa chàng N ra chợ, mua cho vài
con chim trĩ, rồi đưa chàng ta về nhà, bảo người nhà
làm thịt chim trĩ và bắt ăn ngay trước mặt mình. Từ
đó chàng N khỏi bệnh.
Mới
nghe câu chuyện, chúng ta ai cũng có cảm tưởng là chàng
N ngu quá, nhưng nghĩ cho kỹ thì chúng ta cũng không hơn
chàng ta bao nhiêu. Chúng ta nghe khuyên dạy đúng, nhưng vì
thiếu thông minh, thiếu khéo léo, lại hay ưa lý thuyết,
ưa hý luận, ưa khoe khoang và không thành khẩn bao nhiêu
trong công việc đi tìm thuốc chữa khỏi bệnh mà Phật
pháp goi là tìm giải thoát khỏi sự khổ đau. Chúng ta bị
kẹt rất nhiều ở khái niệm và danh từ. Học hỏi đã
vậy mà hành trì cũng vậy. Quán từ bi hay niệm Phật,
chúng ta cũng có thể thực tập một cách thiếu thông
minh và khôn khéo vì bị vướng mắc vào hình thức thực
tập cho nên tuệ giác không dễ dàng phát sinh.
Lời Chúa Jesus trong Bible hay đấng Mohammet trong kinh
Qur’an.. v.v đều nói đến yêu thương, thiện, ác,…
nhưng mấy giáo đồ thực hành nghiêm chỉnh?
Chuyện
chiếc bè
Ngoài vấn đề hiểu lầm, Đức Thích Ca giảng Kinh “Người
Bắt Rắn” còn dạy về pháp buông bỏ, tức đừng cố
chấp. Ngài dùng thí dụ về Chiếc
bè. Mùa
nước lũ cuốn sập cả cầu kỳ, không tàu thuyền; muốn
qua sông, ta dùng cây lá kết lại thành chiếc bè để qua
bên kia sông. Khi lên được bờ, ta tiếc núi công lao
không thể bỏ chiếc bè, nên vác nó lên vai mà đi. Tức
không chịu buông bỏ. Đức Phật hỏi các đệ tử: Người
lữ hành nầy có làm việc lợi ích cho mình hay tha nhân
không? Hay là phải khôn ngoan để lại bên bờ nầy cho
người tới sau có bè mà dùng đưa lại bờ kia? Vậy nhờ
biết buông bỏ, không bám chặt vào công trình cũ mà
chính mình đi thêm trên đường được nhẹ nhàng hơn? Y
như một người trèo thang, muốn lên được nấc thứ
sáu, phải đừng cố chấp, cố bám vào mà phải bỏ đi
nấc thang thứ năm. Nhưng đừng coi nấc thứ sáu là cao
nhất, vì còn nhiều nấc khác cao hơn.
Có
phá chấp được thì dễ phá bỏ hiểu lầm, đưa đến
dễ tha thứ và thực hành được hạnh từ bi khiến mọi
người thương yêu nhau, xã hội yên bình.
Nguy hiểm của bệnh
“Thành kiến”. Đức Phật còn
nhắc đến một thành kiến, cố chấp gây khổ đau thật
sự mà người học đạo cần nghiền ngẫm để tìm thấy
niết bàn trong ta chứ không cần tìm kiếm ở đâu xa xôi.
Cũng trong. kinh Bách
Dụ:
Người
lái buôn góa vợ có một đứa con trai và coi nó là lẽ
sống của đời mình. Một hôm nọ anh ta đi vắng nhà, kẻ
cướp tới đốt xóm đốt làng và bắt đứa con trai anh
ta đi theo chúng. Khi trở về nhà, thấy thi hài một em bé
cháy đen nằm chết bên căn nhà đã cháy rụi của mình,
anh tin ngay là con mình đã chết. Anh khóc lóc thảm thiết
rồi làm lễ hỏa thiêu thân xác đứa bé; rồi vì thương
con quá, anh ta cất tro vào một túi gấm và đi đâu cũng
mang theo bên mình, như lúc nào cũng có con bên cạnh. Mấy
tháng sau, đứa con anh ta thoát được tay kẻ cướp và
tìm về được vào lúc nửa đêm. Nó gõ cửa đòi vào.
Lúc ấy người cha trẻ đang ôm chiếc túi gấm đựng tro
và than khóc một mình. Anh ta không chịu đứng dậy mở
cửa. Anh tin rằng con anh đã chết thật rồi, và đứa bé
đang gõ cửa ngòai kia là con người hàng xóm mất dạy
nào đó đang cố tình trêu ghẹo anh. Vì vậy đứa con
thật của anh ta phải thất thểu ra đi và người cha khốn
khổ kia mất vĩnh viễn đứa con yêu duy nhất của đời
mình.
Do đó Phật dạy: "Nếu
ta cố chấp vào một chủ nghĩa (hay một định kiến, một
tin tưởng) và cho đó là chân lý tuyệt đối, ta sẽ lâm
vào tình trạng của người cha trẻ kia. Ta sẽ không mở
lòng ta ra để đón nhận chân lý. Ta có cảm tưởng rằng
ta không cần đi tìm sự thật nữa, vì ta đã có sự thật
rồi. Lúc ấy nếu sự thật có tới gõ cửa tìm ta, ta
cũng sẽ từ chối không mở cửa.”
Vì khi cầm một khẩu súng
trong tay, như anh chàng Lanza ở trường tiểu học Sandy
Hook ở Newtown, Connecticut hôm 14-12-12, có thể giết mẹ và
26 người—trong đó tới 20 em lớn nhất mới tám tuổi,
mà đã làm rún động cả nước Mỹ. Huống chi khi cầm
một ý thức hệ hay một chủ thuyết trong tay, như chủ
thuyết Mác—Lê chẳng hạn, đã giết cả trăm triệu
người!
Cho nên dù giáo lý của
Đức Phật rất “ngoằn ngoèo khó hiểu” như khi biết
một người hỏi pháp chỉ để đi tranh luận giành phần
thắng chứ không thật sự muốn học để hiểu chân lý,
Ngài im lặng hoặc chỉ đáp: “Dù ta nói pháp rất nhiều,
nhưng coi như ta chưa nói gì cả”. Với người hay cố
chấp, Ngài nói: “Pháp mà còn phải buông bỏ, huống hồ
những gì không phải pháp, hay phi pháp.”
Nên Đức Phật Thích Ca không tự
cho mình cao hơn ai, không dành quyền trừng phạt ai, mà
chỉ dùng Phật pháp như một chiếc bè đưa con người
vượt qua bể khổ, ai thực hành theo thì được giải
thoát khỏi khổ đau, còn không, tự họ gánh chịu hình
phạt do chính mình làm. Như vậy là công bình nhất. Ngoài
hạnh Từ Bi, Vị tha, Ngài còn có hạnh Bình Đẳng đến
độ tuyên dạy đầy khích lệ người hành đạo: “Ta
là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sắp thành!”
Có lẽ vì như
sơ lược một ít những giáo lý vừa cao thâm, vừa gần
gủi với mọi người không phân biệt tín ngưỡng như
trên nên năm 2009, Phật giáo được Tổ chức Liên
Minh Thế Giới Về Sự Phát Triển Tôn Giáo Và Tâm Linh
bầu chọn là tôn giáo vĩ đại nhất
thế giới?
(Freedom
From Religion: Buddhism Wins Best Religion in the World Award)
Phật Giáo được công nhận là tôn giáo vĩ đại nhất thế giới
Phật Giáo được công nhận là tôn giáo vĩ đại nhất thế giới
Qua
giải thưởng Leading Figure hằng năm về nhân vật tôn
giáo đã đóng góp cho nhân loại và hòa bình, Tổ Chức
Liên Minh Thế Giới Về Sự Phát Triển Tôn Giáo Và Tâm
Linh đóng tại Geneva, Thụy Sĩ (ICARUS) đã quyết định
bầu chọn và trao tặng một giải thưởng đặc biệt năm
nay cho cộng đồng Phật giáo.
Hans Groehlichen.
In
advance of their annual Leading Figure award to a religious figure
who has done the most to advance the cause of humanism and peace, the
Geneva-based International
Coalition for the Advancement of Religion and Spirituality (ICARUS)
Linda
Moulin | 15.07.2009 | 16:55
Tribune
de Geneve
Chủ
tịch Tổ Chức Liên Minh Thế Giới Về Sự Phát Triển
Tôn Giáo Và Tâm Linh (ICARUS) đã phát biểu trong hội thảo
vào ngày thứ hai vừa qua: “Chúng tôi đã tổ chức
nghiên cứu theo mạng rada, đồng thời tổ chức của
chúng tôi đánh giá trên một tinh thần công bằng về
những giá trị truyền thống. Chúng tôi đã trải qua phân
tích từng tôn giáo để bình chọn và trao giải thưởng
cho một tôn giáo vĩ đại nhất thế giới (Best Religion in
the World). Qua đó chúng ta cổ vũ và khuyến khích những
nhà lãnh đạo tôn giáo khác thấy được những ích lợi
trong việc thực hành hạnh từ bi.” Groehlichen cho biết
rằng giải thưởng được thông qua do một hội đồng
quốc tế hơn 200 nhà lãnh đạo tôn giáo làm việc và
đánh giá từng phần tâm linh về một tôn giáo. Ông nói:
“Thật là tuyệt vời khi chúng tôi cùng đưa ra một tiêu
chuẩn, nhiều nhà lãnh đạo tôn giáo khác đã bình chọn
Phật giáo. Phật giáo thực sự chỉ là một số ít trong
hội đồng của chúng tôi, nhưng tôn giáo của họ thật
tuyệt vời, hoàn toàn hấp dẫn và họ đã xứng đánh
nhận được giải thưởng vinh dự này.”
Tiêu chuẩn bao gồm nhiều mặt chẳng hạn như đề cao giá trị con người và hòa bình, lòng từ bi và ý nghĩa của tinh thần không phân biệt, khuyến khích bảo tồn thiên nhiên. Ông Groehlichen nói tiếp: “Một thông điệp lớn nhất cho chúng tôi là Tổ Chức Liên Minh Thế Giới Về Sự Phát Triển Tôn Giáo Và Tâm Linh (ICARUS) thành lập vì tâm linh và nhân loại, mang thông điệp bất bạo động (non-violence) dâng hiến cho xã hội. Một chìa khóa giải đáp cho chúng tôi trong tiến trình bình chọn là một tôn giáo đích thực phải thực hành bất bạo động.”
Khi đề ra phương hướng tiến hành bình chọn cho các thành viên trong hội đồng bình chọn, Tổ Chức Liên Minh Thế Giới Về Sự Phát Triển Tôn Giáo Và Tâm Linh (ICARUS) đã nghiên cứu 38 tôn giáo khác nhau trên toàn cầu, đưa ra tiêu chuẩn, sự cống hiến của một tôn giáo, triết học, và vai trò tôn giáo trong lãnh vực điều hành và phúc lợi. Trưởng ban nghiên cứu của Tổ Chức Liên Minh Thế Giới Về Sự Phát Triển Tôn Giáo Và Tâm Linh (ICARUS), ông Jonna Hult nhận xét: “Quả thật không ngạc nhiên với tôi khi Phật giáo là đại biểu xứng đáng danh hiệu Tôn Giáo Tuyệt Vời Nhất Toàn Cầu (Best Religion in the World), bởi vì chúng tôi đã tìm thấy Phật giáo truyền bá không bao giờ có sự can thiệp của vũ lực, ngược lại những tôn giáo khác dường như đi quá xa với tinh thần bất bạo động. Chúng tôi thật sự có một ấn tượng sâu sắc khi nhận ra được trong lịch sử Phật giáo chưa bao giờ dùng vũ lực bạo động. Người Phật tử thực hành những gì mà họ nói, cái mà chúng tôi không thể chứng minh được ở những truyền thống tâm linh khác.”
Ít nhất một trong số thành viên theo đạo Công giáo đại diện để nói về quan điểm này đối với Phật giáo. Cha Ted O'Shaughnessy nói từ Belfast: “Tôi theo giáo hội Thiên Chúa giáo, nhưng cứ làm tôi khó xử, đó là chúng tôi đã thực sự nói về tình thương trong kinh Thánh hay chưa, rồi cho đó là ý Chúa khi đến giết người khác. Với lí do này, tôi đã bình chọn Phật giáo bằng lương tri của mình.” Giáo sĩ Tal Bin Wassad của Hồi giáo ở Pakistan đã đồng ý và nói, được thông ngôn dịch rằng: “Tôi theo Hồi giáo, tôi có thể biết được sự truyền giáo có mặt của sự giận dữ và đổ máu thành sông nhiều hơn là tình thương. Phật giáo ngăn ngừa được điều đó.” Bin Wassad, một thành viên bình chọn trong hội đồng ICARUS thuộc cộng đồng Hồi giáo ở Pakistan nói thêm: “Thực sự, tôi có rất nhiều người bạn theo Phật giáo.” Và Rabbi Shmuel Wasserstein đến từ Jerusalem đã phát biểu: “Dĩ nhiên, tôi yêu đạo Do Thái, và tôi nghĩ Phật giáo là một tôn giáo vĩ đại nhất thế giới. Nói với danh dự, tôi đang tu tập theo phương pháp Thiền Minh Sát của Phật giáo hằng ngày trước khi làm lễ cầu nguyện minyan (lễ cầu nguyện hằng ngày của đạo Do Thái) từ năm 1993. Vì thế tôi đồng ý với quý vị như thế.”
Groehlichen đã tuyên bố rằng kế hoạch bình chọn giải thưởng cho Phật giáo là tôn giáo vĩ đại nhất thế giới đã công bố và thông báo cho các nhà lãnh đạo và cộng đồng Phật giáo. Tuy nhiên vẫn còn một trở ngại, ông nói: “Trên cơ bản, chúng tôi chưa tìm ra vị lãnh tụ Phật giáo nào để trao giải thưởng.” Groehlichen hứa sẽ sớm công bố sớm vào thứ ba tới. “Tất cả tín đồ đạo Phật đều nói rằng họ không xứng đáng để nhận lấy phần thưởng,” Groehlichen giải thích với một tính cách ngay thẳng, ông tiếp: “Lập trường của Phật giáo, họ luôn cho rằng tôn giáo mà họ theo là một giáo lí thực nghiệm chứ không phải một tôn giáo. Nhưng chân lí vẫn bất di bất dịch, với sự thật này chúng tôi công nhận triết học và sự cống hiến của họ là tuyệt vời nhất thế giới và trọng yếu nhất trong sự thách thức và đối mặt với những kỉ nguyên về sau của mỗi cá nhân và con người trên hành tinh của chúng ta.”
Khi được hỏi lý do tại sao các cộng đồng Phật giáo Miến Điện từ chối giải thưởng, Sư Bhante Ghurata Hanta cho biết: “Chúng tôi rất biết ơn đối với sự công nhận của quý vị, nhưng chúng tôi nhường giải thưởng này cho tất cả nhân loại, cho Phật tánh nằm trong mỗi người chúng ta.” Groehlichen trân trọng nói thêm: “Chúng tôi sẽ tiếp tục thỉnh cầu cho đến khi chúng tôi tìm thấy một vị trong cộng đồng Phật giáo tiếp nhận giải thưởng. Chúng tôi sẽ cho các bạn biết khi nào chúng tôi hoàn thành.”
Tiêu chuẩn bao gồm nhiều mặt chẳng hạn như đề cao giá trị con người và hòa bình, lòng từ bi và ý nghĩa của tinh thần không phân biệt, khuyến khích bảo tồn thiên nhiên. Ông Groehlichen nói tiếp: “Một thông điệp lớn nhất cho chúng tôi là Tổ Chức Liên Minh Thế Giới Về Sự Phát Triển Tôn Giáo Và Tâm Linh (ICARUS) thành lập vì tâm linh và nhân loại, mang thông điệp bất bạo động (non-violence) dâng hiến cho xã hội. Một chìa khóa giải đáp cho chúng tôi trong tiến trình bình chọn là một tôn giáo đích thực phải thực hành bất bạo động.”
Khi đề ra phương hướng tiến hành bình chọn cho các thành viên trong hội đồng bình chọn, Tổ Chức Liên Minh Thế Giới Về Sự Phát Triển Tôn Giáo Và Tâm Linh (ICARUS) đã nghiên cứu 38 tôn giáo khác nhau trên toàn cầu, đưa ra tiêu chuẩn, sự cống hiến của một tôn giáo, triết học, và vai trò tôn giáo trong lãnh vực điều hành và phúc lợi. Trưởng ban nghiên cứu của Tổ Chức Liên Minh Thế Giới Về Sự Phát Triển Tôn Giáo Và Tâm Linh (ICARUS), ông Jonna Hult nhận xét: “Quả thật không ngạc nhiên với tôi khi Phật giáo là đại biểu xứng đáng danh hiệu Tôn Giáo Tuyệt Vời Nhất Toàn Cầu (Best Religion in the World), bởi vì chúng tôi đã tìm thấy Phật giáo truyền bá không bao giờ có sự can thiệp của vũ lực, ngược lại những tôn giáo khác dường như đi quá xa với tinh thần bất bạo động. Chúng tôi thật sự có một ấn tượng sâu sắc khi nhận ra được trong lịch sử Phật giáo chưa bao giờ dùng vũ lực bạo động. Người Phật tử thực hành những gì mà họ nói, cái mà chúng tôi không thể chứng minh được ở những truyền thống tâm linh khác.”
Ít nhất một trong số thành viên theo đạo Công giáo đại diện để nói về quan điểm này đối với Phật giáo. Cha Ted O'Shaughnessy nói từ Belfast: “Tôi theo giáo hội Thiên Chúa giáo, nhưng cứ làm tôi khó xử, đó là chúng tôi đã thực sự nói về tình thương trong kinh Thánh hay chưa, rồi cho đó là ý Chúa khi đến giết người khác. Với lí do này, tôi đã bình chọn Phật giáo bằng lương tri của mình.” Giáo sĩ Tal Bin Wassad của Hồi giáo ở Pakistan đã đồng ý và nói, được thông ngôn dịch rằng: “Tôi theo Hồi giáo, tôi có thể biết được sự truyền giáo có mặt của sự giận dữ và đổ máu thành sông nhiều hơn là tình thương. Phật giáo ngăn ngừa được điều đó.” Bin Wassad, một thành viên bình chọn trong hội đồng ICARUS thuộc cộng đồng Hồi giáo ở Pakistan nói thêm: “Thực sự, tôi có rất nhiều người bạn theo Phật giáo.” Và Rabbi Shmuel Wasserstein đến từ Jerusalem đã phát biểu: “Dĩ nhiên, tôi yêu đạo Do Thái, và tôi nghĩ Phật giáo là một tôn giáo vĩ đại nhất thế giới. Nói với danh dự, tôi đang tu tập theo phương pháp Thiền Minh Sát của Phật giáo hằng ngày trước khi làm lễ cầu nguyện minyan (lễ cầu nguyện hằng ngày của đạo Do Thái) từ năm 1993. Vì thế tôi đồng ý với quý vị như thế.”
Groehlichen đã tuyên bố rằng kế hoạch bình chọn giải thưởng cho Phật giáo là tôn giáo vĩ đại nhất thế giới đã công bố và thông báo cho các nhà lãnh đạo và cộng đồng Phật giáo. Tuy nhiên vẫn còn một trở ngại, ông nói: “Trên cơ bản, chúng tôi chưa tìm ra vị lãnh tụ Phật giáo nào để trao giải thưởng.” Groehlichen hứa sẽ sớm công bố sớm vào thứ ba tới. “Tất cả tín đồ đạo Phật đều nói rằng họ không xứng đáng để nhận lấy phần thưởng,” Groehlichen giải thích với một tính cách ngay thẳng, ông tiếp: “Lập trường của Phật giáo, họ luôn cho rằng tôn giáo mà họ theo là một giáo lí thực nghiệm chứ không phải một tôn giáo. Nhưng chân lí vẫn bất di bất dịch, với sự thật này chúng tôi công nhận triết học và sự cống hiến của họ là tuyệt vời nhất thế giới và trọng yếu nhất trong sự thách thức và đối mặt với những kỉ nguyên về sau của mỗi cá nhân và con người trên hành tinh của chúng ta.”
Khi được hỏi lý do tại sao các cộng đồng Phật giáo Miến Điện từ chối giải thưởng, Sư Bhante Ghurata Hanta cho biết: “Chúng tôi rất biết ơn đối với sự công nhận của quý vị, nhưng chúng tôi nhường giải thưởng này cho tất cả nhân loại, cho Phật tánh nằm trong mỗi người chúng ta.” Groehlichen trân trọng nói thêm: “Chúng tôi sẽ tiếp tục thỉnh cầu cho đến khi chúng tôi tìm thấy một vị trong cộng đồng Phật giáo tiếp nhận giải thưởng. Chúng tôi sẽ cho các bạn biết khi nào chúng tôi hoàn thành.”
Thiện
Hữu dịch (Theo Linda Moulin từ Tribune de Geneve)
XXXXXXXX
Nhìn về quê hương Việt Nam, nếu
ai đau như nổi đau của nhạc sĩ Việt Khang khi hỏi “Việt
Nam tôi còn hay đã mất?Mà giặc Tàu ngang tàn trên quê
hương?” thì nếu áp dụng thủ thuật như kinh “Người
Bắt Rắn”, ta tức khắc có giải pháp “Đập cái đầu
con rắn độc là Hồ Chí Minh”, nằm trong điều 4HP mà
Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng còn khư khư ôm chặc khi
Trung ương Đảng họp bàn sửa đổi Hiến pháp 1992..
Nhưng
thế giới văn minh hiện không chấp nhận đấu tranh bạo
động lối “Đập bể đầu, bẻ gãy cổ” nữa, mà Xã
hội Chủ nghĩa của con cháu “Rắn Hồ” vẫn liên tục
bắt giam những người yêu nước tranh đấu bất bạo
động và xử án lối nhà “tiền chế”, khiến bầu máu
nóng của tuổi trẻ sôi lên sùng sục, có thể đưa đến
bạo động dù thâm tâm họ không muốn?
Hậu quả sự hiểu
lầm Con Rắn Đỏ Cực Độc Hồ Chí Minh
Về tôn
giáo, quá nhiều người là nạn nhân, gây hậu quả trầm
trọng.
1. Hiện tượng Thích
Nhất Hạnh
Đảng CSVN không ngừng tận diệt
những lãnh tụ tôn giáo nào không tuân lệnh chúng. Đảng
viên Cộng Sản tiếp tục được huấn luyện trà trộn
vào đội lốt nhà tu để “nằm vùng” mà ngay như Thiền
Sư Thích Nhất Hạnh, người có công với Cộng Sản mà
đến nay cũng có vẽ không biết điều đó? Ngay như năm
1991, chính Thiền Sư Nhất Hạnh đã dịch ra Quốc Văn
kinh “Người Bắt Rắn” với những lý luận rất thông
suốt về vô ngã, vô thường, phá chấp; thành kiến v.v.
vậy mà 20 năm sau, tức thời gian Hoa Kỳ có cái tang tốc
911 năm 2001, Thiền Sư vẫn còn “cố chấp” vào quá
khứ, còn thành kiến ghét Mỹ để không sáng suốt coi kỷ
lại mà bị hố nặng khi nói theo người Mỳ nào đó,
buộc tội Hoa Kỳ dội bom vào năm 1968 Tết Mậu Thân mà
làm chết tới “300.000 người” chỉ ở một thị xã
Bến Tre! Kể từ đó tên tuổi còn lại chút gì của Sư
Ông Nhất Hạnh đã bị cộng đồng Mỹ lẫn Việt hải
ngoại chôn luôn! Rồi năm 2005 về Việt Nam, ngay cả người
đồng đạo một thời cùng làm Phật sự chung là Đại
lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ cũng không thèm cho gặp
mặt; còn Thiền Sư vẫn tưởng giảng dạy được cho bọn
vô thần Cộng Sản, nhưng không dè đến năm 2009 lại bị
bọn xã hội đen đập phá Tu Viện Bát Nhã Làng Mai-Lâm
Đồng, Sư Ông Nhất Hạnh bấy giờ mới biết rõ để
cắc cớ hỏi Chủ tịch nước Việt Nam XHCN lúc ấy là
Nguyễn Minh Triết “Công an của ông Chủ tịch…phá
chùa ở Lâm Đồng, còn giờ nầy ông Chủ tịch đang ở
đâu?”
Thành thử công lao Thiền Sư Nhất
Hạnh dịch thuật bao nhiên kinh điển, như “Kinh Người
Bắt Rắn” cao siêu, giúp thế giới hiểu Đức Thích Ca
là một đại lương y với nhiều lương dược, nhưng
còn tùy bệnh nhân biết và chịu dùng thần dược
ấy không?
Tiếc thay, “bệnh nhân” Thích
Nhất Hạnh dùng thuốc kiểu Con Chim Trĩ , còn mang
nặng thành kiến ghét Mỹ, tin tưởng Cộng Sản
Việt Nam có thể thay đổi, cảm hóa, dạy đạo pháp
được, chẳng lẽ Sư Ông không biết rõ Cộng Sản là
loài Vô đạo, mà đến sau năm 1975 vẫn tiếp tục “Chống
Mỹ cứu Cộng Sản? Bị lên án là gây tai ương cho đất
nước.
2. Hiện tượng Linh Mục Trần
Hữu Thanh
Không phải chỉ Phật giáo như
Thiền sư Thích Nhất Hạnh “nổi tiếng” phá hoại, mà
còn một người Thiên Chúa giáo cũng nổi danh như cồn.
Đó là Linh Mục Trần Hữu Thanh.
Phàm bất cứ một nhân vật nào
cũng được người khen kẻ chê. Thí dụ Tổng Thống Ngô
Đình Diệm là một chí sĩ yêu nước, sùng đạo Chúa vô
cùng, có tinh thần phục vụ dân tộc cao, nhưng lại bị
chính người cùng đạo là Linh Mục Trần Hữu Thanh
cũng nhân danh yêu dân tộc Việt Nam mà tố cáo
từ Cố vấn Ngô Đình Nhu đến Ngô Đình Cẩn mà ta nghe
danh là “Lãnh Chúa miền Trung”. Không biết đúng hay
sai?
Trong quyển “Ngô Đình Diệm và
Chính Nghĩa Dân Tộc” của nhà biên khảo Minh Võ, viết
về ông Ngô Đình Cẩn: “Là người con chí hiếu, nên
ông (Ngô Đình Diệm) rất yêu thương và biết ơn người
em áp út là Ngô Đình Cẩn đã thay ông luôn ở bên mẹ
để săn sóc. Nhiều người cho rằng sự nể nang của ông
đã khiến ông Cẩn “lộng hành” và làm mất uy tín của
ông anh tổng thống. Nhưng phần nhiều những người ghét
ông đã nói quá về ông Cẩn. Dù gì đi nữa, ông Cẩn
cũng đã làm một số việc có lợi cho an ninh quốc gia
với những mạn lưới tình báo hữu hiệu. (NĐD v
CNDT, tr. 122)
Chính điều nầy mà người ta
rất lạ, vì nhiều tác giả đều nhìn nhân ông Ngô Đình
Cẩn “ít chữ” nhất trong các anh em của dòng họ Ngô
Đình, ở bên cạnh hầu mẹ mà lại “làm một số
việc có lợi cho an ninh quốc gia với những mạn lưới
tình báo hữu hiệu.” thì làm sao làm được hai việc
to lớn như thế cho đất nước một cách lương thiện,
ngoài việc phe đảng, buôn lậu?? Cụ Minh Võ có lẽ
dù thông thái, tạo tin tức quốc tế vì chuyên làm việc
cho đài VOA, BBC. Cụ đọc và gặp gỡ nhiều ký giả, tác
giả ngoại quốc, nhưng ý kiến những người nầy chỉ
là “khơi khơi” bên ngoài, không làm sao hiểu chính xác
bằng người trong cuộc, nghe, thấy tận tai, mắt những
gì “cậu ấm” Ngô Đình Cẩn làm??
Một trong những người đó là
ông Lê Xuân Nhuận, nguyên Giám Đốc Ngành Cảnh Sát
Đặc Biệt Vùng I VNCH, cũng từng làm việc tại miền
Trung, Hiện ông LXN còn khỏe mạnh, năm 2012, ông vừa xuất
bản quyển hồi ký “Biến Loạn Miền Trung”, dành
nguyên một chương về “Lãnh Chúa Miền Trung”.
(từ tr. 215) để nói những điều tai nghe mắt thấy,
rằng quyền hành của Cẩn tuyệt đối—như ai vào
báo cáo: Tên nầy phản loạn, dám chống lại Ngô Tổng
Thống và “Cậu” mà đề nghị giết chết, “Cậu”
cũng gật đầu liền –nên dân chúng sợ như hung thần,
gọi Ngô Đình Cẩn là “Lãnh Chúa Miền Trung”.
Thật ra quyền hành của ổng còn bao trùm cả miền Nam,
cả lãnh địa của anh ổng, cố vấn Ngô Đình Nhu, các
phái đoàn, tỉnh trưởng trong Nam ra Huế họp Đại hội
Đảng Cần Lao đều xác nhận với tôi như thế” (BLMT
tr. 225)
Nhưng năm 2007, trong một thư
Email trả lời cho ông Lê Xuân Nhuận, nhà văn NGUYỄN LÝ
TUỞNG (cựu Dân Biểu Việt Nam Cộng Hoà) về phong
trào chống tham nhũng thời VNCH nhân nhà văn nầy viết
bài về LM Trần Hữu Thanh, LM nầy xác nhận còn ghê
gớm hơn là chuyện buôn lậu nhiều.
(Nguyễn Lý Tưởng - “Tưởng
Nhớ LM GiuSê Trần Hữu Thanh” – 26/10/2007)
“... Thời ông
Diệm, LM Trần Hữu Thanh là người chống ông
Ngô Đình Cẩn ra mặt... vụ gạo Miền Trung là do LM Trần
Hữu Thanh tố cáo...”
(Trích từ vi-thư gửi Lê Xuân
Nhuận:)
Date: Wednesday, January 21, 2009 10:52
AM
From: "Tuong Nguyen"
<lytuongnguyen@hotmail.com>
Đại Ý: Ông
Cố-Vấn Ngô Đình Cẩn còn dính líu đến “vụ gạo
Miền Trung” (đầu-cơ tích-trữ gạo, không phải chỉ để
bán giá chợ đen, mà còn để tiếp-tế cho cộng-sản
ngoài Bắc)
Trong sách ông
LXN dùng một loạt tỉnh từ kép để tả “Cậu”:
Phong- kiến, hủ-lậu, kiêu- căng, hống- hách, tham-ô,
nhũng-nhiễu, độc-tài, tàn-bạo, bất-nhân, hiếu-sát
v.v…mới chỉ là chuyện nội bộ miền Nam, nhưng chuyện
vượt qua nội bộ Quốc-Gia, là “Cậu”đã chuyển lậu
hàng ngàn tấn gạo ra cho cộng sản miền Bắc.
Vụ này xảy
ra vào năm 1956, người Mỹ biết được nên báo tin cho
NĐD là người mới lên làm Tổng Thống và đang lớn
tiếng hô hào chính sách bài trừ tham nhũng và tệ đoan
xã hội miền Nam. . Bởi thế “Lãnh Chúa” Ngô Đình
Cẩn không thể chối cãi. Nhưng để cứu thủ phạm,
người ta đã ngụy tạo ra một tổ chức buôn lậu gạo,
đổ tội lên đầu ông Nguyễn Văn Mẹo (Bộ trưởng Bộ
Kinh Tế) và ông Bùi Quang Sơn (Phó Tỉnh trưởng tỉnh
Quảng Nam) vì gạo phải chở bằng tàu thủy từ Sàigòn
ra Đà Nẳng- Quảng Nam rồi từ nơi đây mới lọt vào
tay đối phương.
Vụ án bán
lậu, tiếp tế gạo cho CS miền Bắc được đưa ra Tòa.
Tòa xử ông Sơn 12 năm khổ sai. Tại Huế, Cẩn không ngờ
Sơn—Bộ hạ thân tín của mình bị án quá nặng, mất
luôn cả sự nghiệp, vì sợ Sơn có thể uất ức khai ra
chính phạm, nên Cẩn năn nỉ ông anh-- Tổng Thống Diệm—và
rồi, dù án lệnh đã chính thức thành văn, Diệm cũng
bắt Tòa phải xử lại. Song trớ trêu thay, để cứu
thuộc hạ mình, Cẩn bèn xúi Diệm truy tố ông Ưng Bảo
Toàn, Tổng Giám Đốc Tổng Nha Kinh Tế, thuộc Bộ Kinh
Tế. Thế là Ưng Bảo Toàn trở thành chính phạm, còn cái
án 12 năm khổ sai của Sơn thì được giảm xuống còn 6
tháng tù treo. Dân gọi là vụ án Ưng Bảo Toàn. Dân chúng
khắp nước, nhất là miền Trung, vừa chán ngán, vừa oán
than, vì dòng họ Ngô Đình đã dẫm đạp lên Công Lý.
Ông Mẹo và Tòan cùng là người miền Nam, không có liên
hệ nhân sự nào ở miền Trung để âm mưu bán gạo cho
Việt Cộng tại miền Trung, là nơi Ngô Đình Cẩn nắm
toàn quyền sinh sát, có nhân viên, thuộc hạ, đảng viên
Cần Lao khắp nơi. Viên chánh án đã tuyên án nặng cho
Bùi Quang Sơn sau đó cũng phải rời vào Nam, không dám ở
lại miền Trung.
Điều đáng ghi
nhận là, chính LM Trần Hữu Thanh, ngôn sứ
“Chủ Nghĩa Nhân Vị”, một nhân vật thân cận của
chế độ, cũng đã lên tiếng tố cáo các vụ tham nhũng,
đặc biệt là vụ “Gạo miền Trung nầy”. (Biến Loạn
Miền Trung, tr. 236, 237, 238)
Trên đây là
nghe, thấy của ông Lê Xuân Nhuận, một người từng phục
vụ Ty Cảnh Sát thành phố Huế từ năm 1956, lúc xãy ra
vụ tiếp tế chuyển lậu hàng ngàn tấn gạo ra cho
cộng sản miền Bắc, nên chắc chắn có dịp theo dõi
kỷ hơn Cụ Minh Võ và các ký giả ngoại quốc
nhiều!
Chức vụ đầu
tiên là Trưởng Phòng Hành Chánh kiêm Huấn Luyện. Ông có
nhiều dịp được đến dinh ông cố vấn, tham dự những
buổi họp mà ông gọi là “Buổi tố khổ”, từng hát
“Suy tôn Ngô Tổng Thống và “Cậu”, sau lên Tư Lệnh
CSQG Vùng, từng được mời vào dinh “Cậu” ăn sinh
nhật, ông tả: Lách qua hai cánh cổng sắt cao, to mở
hé, tôi bước vào một thế giới lạ thường, không có
đường dây điện thoại liên lạc với bên ngoài. Ông cố
vấn thường ở trong tư thất, và ít có ai thấy được
chữ ký của ổng…(…) Miệng nhai trầu, tay cầm quạt
khi thì phe phẩy, khi dùng gãi lưng…Có ông Tỉnh Trưởng
Nguyễn Đình Cẩn, Tỉnh Trưởng tỉnh Bình Thuận suốt
buổi vẫn bám sát theo ổng, vừa đi quanh chăm sóc từ
loại cây cảnh quí tới muông thú hiếm trong đó có con
voi con …(BTMT tr. 216, 222)
Đấy,
một gia đình quá quan liêu, quan lại sợ hãi đến Tỉnh
Trưởng cũng theo o bế nên dễ gây bè phái để đem gạo
ra tiếp tế Hồ Chí Minh, rồi năm 1963 con Rắn Đỏ nầy
tặng Cành Đào làm thân… Ta tin được là ông NĐD và
NĐN không dại, nhưng trong cảnh kính cổng cao tường
“Lãnh Chúa Miền Trung” dại thì sao? Mà Tổng Thống vốn
thương và biết ơn hiếu thảo của em, đã từng nghe lời
xúi dục mà nở gây oan khiên cho người khác như vụ án
buôn gạo, dân oán vang trời, nếu họ bị Cộng Sản mua
chuộc để theo VC là lỗi tại ai??
Mới
nắm quyền có hai năm mà quyển BLMT có gần 500 trang, còn
nhiều ly kỳ bất ngờ thú vị khác, hèn chi tại sao
chính phủ JF Kennedy là người TCG lại đi hảm hại người
TCG!
3.
Còn Giáo Hoàng Vatican Paul VI nữa!
Vai
trò “Nhóm Giáo Dân Tranh Đấu” nằm trong tay LM Hoàng
Quỳnh. Thiệu đã sử dụng Vũ Ngọc Nhạ làm liên lạc
viên giữa mình và “Nhóm Giáo Dân Ki-Tô giáo ”, nhằm
tìm chỗ dựa chính trị cho mình. Vũ Ngọc Nhạ, một điệp
viên Cộng Sản, trở thành “ông Cố vấn” lần hai,
mạnh hơn thời làm “Cố vấn” cho cố Tổng Thống NĐ
Diệm. Tháng 7-1969, Cảnh Sát Quốc Gia phá vỡ Cụm tình
báo chiến lược A-22 của đối phương, bắt giữ Vũ Ngọc
Nhạ, (kẻ được Linh Mục Hoàng Quỳnh che chở) và Huỳnh
Văn Trọng là Phụ tá của TT Thiệu, tất cả 42 cán bộ
và cơ sở điệp báo, hoạt động sâu rộng và có ảnh
hưởng trong nhiều cơ quan chính quyền cũng như các tổ
chức chính trị.
Vụ
án được đưa ra xét xử tháng 11-69, thế mà vào tháng
6-1971, khi bị chính phủ Nguyễn Văn Thiệu cầm tù ngoài
Côn Đảo còn được
Tòa thánh Vatican và Giáo
hoàng Paulus VI tặng Bằng Khen và Huy chương "Vì
hòa bình" (BLMT tr. 45)
Vũ Ngọc Nhạ
chết ngày 7
tháng 8 năm 2002 tại
TP Hồ Chí Minh, hưởng thọ 75 tuổi. Phần mộ cửa ông
ta hiện nay được đặt tại nghĩa trang Lạc Cảnh,
TP.HCM, trong khu vực dành riêng cho các tướng lĩnh, gần
mộ phần của 2 điệp viên nổi tiếng khác là Phạm
Xuân Ẩn và Đặng
Trần Đức. Mộ phần của Đại tá Phạm
Ngọc Thảo cũng cách đó không xa.
TT Nguyễn Văn Thiệu đích thân
đi trực tiếp cầu cứu với giáo hội Kitô La Mã, nhưng
Giáo
hoàng Paul VI không tiếp kiến dù Thiệu là một
con chiên, vì lập trường Vatican về chiến tranh Việt Nam
là chỉ bênh vực Hà Nội , dù miền Nam có rơi vào chế
độ Cộng Sản sắt máu. Đã vậy Giáo Hoàng còn chỉ
trích Thiệu, còn tiếp kiến Nguyễn Thị Bình và Xuân
Thủy, trưởng phái đoàn Hà Nội tại Hòa Hội Paris. Từ
năm 1968 Giáo Hoàng Phao Lồ VI đã lập
ra “Ngày Quốc Tế Hòa Bình”
cổ vũ Hòa Bình bằng thương thuyết tại VN. Vatican xác
định lập trường là chấm dứt chiến tranh, quan hệ tốt
với miền Bắc và chính Phủ Lâm Thời Miền Nam. Chính
Giáo Hoàng trao đổi công điện trực tiếp với Hồ
Chí Minh.
Tức là Giáo Hoàng Paul
VI đã biến Vatican và nhiều địa phương
thành một guồng máy chính trị, ngoại giao, tình báo
khổng lồ để giúp Hà Nội tiến chiếm miền Nam.(BLMT
tr. 477, 478) .
Mừng Xuân Quí Tị 2013, tìm
được chút sử liệu nầy đủ để nhóm Nguyễn Phúc
Liên Thành UB TTTAĐCSVN và thế giới thấy rõ không phải
chỉ có Thích Trí Quang, Thích Nhất Hạnh, Thích Minh Châu,
càng không phải Thích Đôn Hậu, Thích Huyền Quang, Thích
Quảng Độ hay Thích Hộ Giác dâng miền Nam cho Cộng Sản!
Hãy cùng nhau học thủ thuật bắt
Rắn Đỏ Hồ Chí Minh: Đập Rắn phải đập Cái Đầu,
Người Bắt Rắn. mới không bị nguy hiểm’.
Giáo pháp nhà Phật vừa cao thâm
như “Kinh Người Bắt Rắn”, vừa cũng rất giản dị
như hễ “Có cái nầy vì có cái kia” để phăng
lần ra mà thấy lịch sử Đệ I&II VNCH khi đọc “Biến
Loạn Miền Trung” do tác giả Lê Xuân Nhuận. Mục đích
chúng tôi không phê phán, lên án ai, nhưng đưa những khía
cạnh mà chính mình cũng không biết, để độc giả thẩm
định sự khả tín hầu dẹp tan cuộc chiến do Liên Thành
đang bày binh bố trận.
Cho nên năm 2009 Phật
Giáo được công nhận là tôn giáo vĩ đại nhất thế
giới,
Còn cuối năm
2012, Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ vinh danh Phó Tăng Thống
Giáo Hội Việt Nam Thống Nhất như tin Phòng Thông Tin Phật
Giáo Quốc Tế:
“Trước
khi cung tiễn Kim quan vào trưa ngày chủ nhật 16.12,
trên 200 Tăng Ni, và trên 2000 Phật tử tề tựu tại
Nguyện đường làm Lễ Tưởng nguyện Công hạnh vào lúc
10 giờ 30 sáng. Đến tham dự có Dân biểu Liên bang Quốc
hội Hoa Kỳ, Al Green. Ông cho biết hàng
năm Quốc hội Hoa Kỳ dành 365 lá quốc kỳ để mỗi ngày
vinh danh một nhân vật kỳ vĩ do các Đại biểu Quốc hội
đề xuất. Dân biểu Al Green đã đề nghị và được
Quốc hội Hoa Kỳ chấp thuận treo cờ vinh danh Đức Phó
Tăng Thống Thích Hộ Giác trên nóc nhà Quốc hội
tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn suốt một ngày khi Ngài viên
tịch. Hôm nay Dân biểu Al Green mang lá cờ ấy
đến tặng Môn đồ pháp quyến trước linh đài cùng bản
in Điệp văn Tưởng nguyện của Quốc hội.
Dân biểu nói rằng :
“Tất
cả chúng ta cho dù sang hèn, qúy tiện, đến từ giai cấp
nào, chủng tộc nào, thì đều có đồng một điểm giống
nhau, đó là tất cả chúng ta đều phải chết. Nhưng
không phải cái chết nào cũng được tưởng nhớ, được
vinh danh. Rất ít người trong cộng đồng nhân loại khi
ra đi, mà được người ta tưởng tiếc. Đại lão Hòa
thượng Thích Hộ Giác là một trong số người hiếm hoi
đó.
“Tôi
đến đây không phải để vinh danh một người đã sống
rất lâu trên cõi đời này, 85 năm. Tôi đến đây để
nói lên những phẩm chất, những giá trị. Không phải
chúng ta sống lâu bao nhiêu, mà chúng ta đã tận dụng
thời gian chúng ta sống như thế nào. Tôi tin rằng Đại
lão Hòa thượng, ngài có một cuộc đời đúng nghĩa của
một người đáng để tưởng nhớ. Đó là sự hy sinh,
đánh đổi. Ngài đã hy sinh, đánh đổi, để làm thế
nào xây dựng, duy trì những giá trị tốt đẹp, bảo vệ
những gì tốt đẹp, và để làm những lựa chọn đó,
Ngài đã phải hy sinh rất nhiều, đánh đổi rất nhiều.
“Trong
tư cách của một người Dân biểu Quốc hội Hoa Kỳ, tôi
có một đặc quyền là tôi đã yêu cầu một lá cờ treo
lên trên trụ sở Quốc hội Hoa Kỳ. Nhân danh Quốc hội
Hoa Kỳ để vinh danh Đại lão Hòa thượng Thích Hộ Giác,
và lá cờ đó đã được tung bay trên nóc
Quốc hội Hoa Kỳ. Tôi đem lá
cờ đó về đây trao lại cho Môn đồ pháp quyến như một
nghĩa cử nói lên sự cảm nhận sâu xa của tôi đối với
Đại lão Hòa thượng”.
Kính chúc quí
vị năm Quí Tị học thủ thuật Bắt Rắn cho đúng để
hưởng hạnh phúc, hòa bình thật sự. Nguyễn
Việt Nữ
(2/1/2013)
No comments:
Post a Comment